Sắc lệnh số 69 do Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành nhằm ấn định biểu thuế về thuế điền thổ trong toàn hạt Bắc Bộ, giải quyết các vấn đề cấp bách về tài chính và nông nghiệp trong giai đoạn đầu sau Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Sắc lệnh này áp dụng đối với toàn bộ diện tích đất canh tác, đất điền thổ thuộc địa bàn hạt Bắc Bộ. Đối tượng chịu tác động trực tiếp là các chủ sở hữu đất đai, hộ nông dân có quyền sử dụng đất và các cơ quan quản lý hành chính, tài chính có thẩm quyền thu thuế tại địa phương.
Nội dung cốt lõi của Sắc lệnh
1. Quy định về biểu thuế điền thổ mới (Điều 1 và Điều 2)
- Xác định lại mức thuế điền thổ áp dụng cho các loại đất nông nghiệp tại Bắc Bộ nhằm đảm bảo sự công bằng và phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội lúc bấy giờ.
- Phân loại các hạng đất canh tác (đất trồng lúa, đất trồng màu, đất trồng cây công nghiệp) để áp dụng các mức thuế suất tương ứng, giảm bớt gánh nặng cho người nông dân nghèo.
- Quy định phương thức nộp thuế, có thể bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật (thóc) tùy thuộc vào điều kiện thực tế của từng địa phương và hướng dẫn của cơ quan tài chính.
2. Chính sách miễn, giảm thuế hỗ trợ nhân dân (Điều 3)
- Quy định cụ thể về các trường hợp được xét miễn hoặc giảm thuế điền thổ, đặc biệt là đối với các vùng bị thiên tai, lũ lụt, mất mùa hoặc gặp khó khăn đặc biệt do chiến tranh tàn phá.
- Tạo điều kiện cho người dân phục hồi sản xuất nông nghiệp, ổn định đời sống sau nạn đói năm 1945.
- Thẩm quyền xem xét và quyết định miễn, giảm thuế được giao cho các Ủy ban nhân dân lâm thời cấp tỉnh và cấp kỳ phê duyệt dựa trên đề nghị của cấp cơ sở.
3. Tổ chức thực hiện và quản lý thu thuế (Điều 4)
- Giao trách nhiệm cho Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Nội vụ phối hợp chỉ đạo, hướng dẫn các Ủy ban nhân dân lâm thời các cấp trong hạt Bắc Bộ tổ chức thực hiện việc kê khai, lập sổ thuế và thu thuế điền thổ.
- Yêu cầu quá trình thu thuế phải đảm bảo tính minh bạch, công bằng, tránh lạm thu và thất thoát ngân sách nhà nước.
- Quy định thời hạn hoàn thành việc thu nộp thuế điền thổ để kịp thời bổ sung nguồn lực tài chính cho ngân sách quốc gia non trẻ.
Hiệu lực thi hành
Sắc lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây về thuế điền thổ tại Bắc Bộ trái với Sắc lệnh này đều bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Tài chính và Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thi hành Sắc lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LIÊN HIỆP NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 69 NGÀY 16 THÁNG 5 NĂM 1946
Chiểu theo lời đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
Sau khi Hội đồng chính phủ và Ban Thường trực Quốc hội đã thoả hiệp,
RA SẮC LỆNH:
Ruộng hạng nhất 1 mẫu ta (3600 th.vuông) 1 năm 12 đ
Ruộng hạng nhì 1 năm 10 đ
Ruộng hạng ba 1 năm 8 đ
Đất hạng nhất - - - 12 đ
- nhì - - - 8 đ
- ba - - - 3 đ
- tư - - - 1 đ
- năm - - - 0,10 đ
Nếu ruộng đất tính diện tích bằng mẫu tay (10.000 th.vuông) thuế biểu kê trên sẽ nhân lên 2 phần bảy (2,7).
Hạng nhất 1 mẫu tay (10.000 th.vuông) 1 năm 20đ
- nhì - - - 12 đ
- ba - - - 8 đ
- tư - - - 5 đ
- năm - - - 2.50 đ
- sáu - - - 1 đ
- bảy - - - 0.20 đ
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
Sắc lệnh số 69 về việc ấn định biểu thuế về thuế điền thổ trong toàn hạt Bắc Bộ do Chủ tịch Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 69
- Loại văn bản: Sắc lệnh
- Ngày ban hành: 16/05/1946
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 31/05/1946
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
