Sắc lệnh số 159/SL do Chủ tịch Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành quy định chi tiết về vấn đề ly hôn, thiết lập các căn cứ pháp lý, thủ tục tố tụng và hệ quả pháp lý sau khi ly hôn trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Sắc lệnh áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia đình, cụ thể là việc giải quyết ly hôn giữa các cặp vợ chồng trên lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân các cấp.
Các căn cứ và duyên cớ cho phép ly hôn
Sắc lệnh quy định rõ hai hình thức ly hôn chính bao gồm ly hôn theo yêu cầu của một bên (đơn phương) khi có các duyên cớ cụ thể và thuận tình ly hôn:
- Ly hôn theo yêu cầu của một bên (Điều 2): Tòa án có thẩm quyền xem xét và cho phép vợ hoặc chồng ly hôn nếu rơi vào một trong các trường hợp sau: ngoại tình; một bên bị can án phạt giam; một bên mắc bệnh điên hoặc một căn bệnh hiểm nghèo khó chữa khỏi; một bên tự ý bỏ nhà đi quá hai năm liên tục mà không có duyên cớ chính đáng; hoặc trường hợp vợ chồng bất hòa về tính tình, đối xử ngược đãi đến mức không thể tiếp tục chung sống cùng nhau.
- Thuận tình ly hôn (Điều 3): Thừa nhận quyền tự nguyện ly hôn của cả hai vợ chồng khi họ cùng đồng thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Thủ tục giải quyết ly hôn tại Tòa án
Quy trình tố tụng giải quyết các vụ việc ly hôn được thực hiện theo các bước chặt chẽ nhằm bảo đảm quyền lợi của các bên và sự ổn định xã hội:
- Thủ tục tố tụng chung (Điều 4): Khi xét xử việc ly hôn, Tòa án áp dụng thủ tục tố tụng dân sự thông thường như đối với các vụ án hộ tịch khác.
- Thủ tục đối với trường hợp thuận tình ly hôn (Điều 4): Đối với trường hợp hai vợ chồng thuận tình ly hôn, Tòa án nhân dân huyện hoặc thị xã sẽ tiến hành hòa giải. Nếu hòa giải không thành, và sau thời hạn một tháng kể từ ngày hòa giải không thành mà hai vợ chồng vẫn giữ nguyên ý định ly hôn, Tòa án nhân dân huyện hoặc thị xã sẽ chính thức ra quyết định công nhận sự ly hôn của họ.
- Hoãn xét xử khi người vợ có thai (Điều 5): Nhằm bảo vệ sức khỏe của người mẹ và thai nhi, nếu người vợ đang mang thai, cả vợ hoặc chồng đều có quyền yêu cầu Tòa án tạm hoãn việc xét xử ly hôn cho đến sau kỳ sinh nở.
Hiệu lực và hậu quả pháp lý của việc ly hôn
Sắc lệnh quy định cụ thể về trách nhiệm đối với con cái và nghĩa vụ tài chính giữa các bên sau khi ly hôn:
- Trông nom, nuôi dưỡng và giáo dục con cái (Điều 6): Tòa án sẽ căn cứ hoàn toàn vào quyền lợi sát sườn của các con chưa thành niên để quyết định giao quyền trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ cho cha hoặc mẹ. Cả hai vợ chồng sau khi ly hôn đều phải có nghĩa vụ cùng đóng góp chi phí nuôi dạy con cái, mức đóng góp của mỗi người được xác định tùy thuộc vào khả năng kinh tế thực tế của họ.
- Bồi thường thiệt hại do lỗi của một bên (Điều 7): Trong trường hợp Tòa án xét xử và xác định việc ly hôn xuất phát từ lỗi của một bên (vợ hoặc chồng), Tòa án có quyền quyết định buộc bên có lỗi phải bồi thường các khoản phí tổn phát sinh cho bên kia.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm thực hiện
Sắc lệnh số 159/SL thiết lập các quy định chuyển tiếp và phân công trách nhiệm thi hành cụ thể:
- Bãi bỏ các quy định cũ (Điều 8): Tất cả các điều khoản, quy định pháp luật trước đây trái với nội dung của Sắc lệnh này đều chính thức bị bãi bỏ.
- Trách nhiệm thi hành (Điều 9): Bộ trưởng Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm chiểu theo Sắc lệnh để hướng dẫn và tổ chức thi hành trên thực tế. Sắc lệnh được ký ban hành bởi Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
SẮC LỆNH
CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ SỐ 159/SL NGÀY 17 THÁNG 11 NĂM 1950
CHỦ TỊCH NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Chiểu Sắc lệnh ngày 10 tháng 10 năm 1945 tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam để thi hành cho đến khi ban hành những bộ luật mới cho toàn cõi Việt Nam;
Chiểu đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
Chiểu quyết nghị của Hội đồng Chính phủ, sau khi Ban thường trực Quốc hội thoả thuận;
RA SẮC LỆNH:
Điều 1: Các điều khoản về ly hôn nay ấn định như sau:
I- DUYÊN CỚ LY HÔN:
Điều 2: Toà án có thể cho phép vợ hoặc chồng ly hôn trong những trường hợp sau này:
1- Ngoại tình;
2- Một bên can án phát giam;
3- Một bên mắc bệnh điên hoặc một bệnh khó chữa khỏi;
4- Một bên bỏ nhà đi quá hai năm không có duyên cớ chính đáng;
5- Vợ chồng tính tình không được hoặc đối xử với nhau đến nổi không thể sống chung được.
Điều 3: Vợ chồng có thể xin thuận tình ly hôn.
II- THỦ TỤC LY HÔN:
Điều 4: Khi xử việc ly hôn, toà án áp dụng thủ tục tố tụng thường như xử các việc hộ khác.
Tuy nhiên, trong trường hợp hai vợ chồng thuận tình xin ly hôn, nếu toà án nhân dân huyện hay thị xã hoà giải không thành, và nếu sau đó một tháng hai vợ chồng vẫn giữ ý kiến xin ly hôn, thì toà án nhân dân huyện hay thị xã sẽ chính thức công nhận sự ly hôn.
Điều 5: Nếu người vợ có thai thì vợ hay chồng có thể xin toà hoãn đến sau kỳ sinh nở mới xử việc ly hôn.
III- HIỆU LỰC CỦA VIỆC LY HÔN:
Điều 6: Toà án sẽ căn cứ vào quyền lợi của các con vị thành niên để ấn định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng.
Hai vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình.
Điều 7: Trong trường hợp xét xử một bên có lỗi thì toà án có thể bắt bên đó bồi thường phí tổn cho bên kia.
Điều 8: Những điều khoản trái với sắc lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 9: Bộ trưởng Bộ Tư pháp chiểu sắc lệnh thi hành.
|
| Hồ Chí Minh (Đã ký)
|
Sắc lệnh số 159/SL về việc quy định vấn đề ly hôn do Chủ tịch Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hoà ban hành
- Số hiệu: 159/SL
- Loại văn bản: Sắc lệnh
- Ngày ban hành: 17/11/1950
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Hồ Chí Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 02/12/1950
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
