Hệ thống pháp luật

ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH LÂM ĐỒNG
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 40/2006/QĐ-UBND

Đà Lạt, ngày 6 tháng 7 năm 2006

 

QUYẾT ĐỊNH

VỀ VIỆC BAN HÀNH ĐỀ ÁN "MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ, TĂNG TỐC THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH LÂM ĐỒNG ĐẾN NĂM 2010”

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH KXI ngày 16/12/2002;

Xét đề nghị của Cục trưởng Cục thuế tỉnh Lâm Đồng tại Tờ trình số 557/TT-CT ngày 03/5/2006;

Theo đề nghị của Chánh Văn phòng UBND tỉnh Lâm Đồng,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này Đề án "Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá, tăng tốc thu ngân sách Nhà nước (NSNN) tỉnh Lâm Đồng đến năm 2010”, thay thế Đề án kèm theo Quyết định số 63/2004/QĐ-UB ngày 07/4/2004 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt Đề án đổi mới tổ chức và quản lý thu thuế của ngành Thuế Lâm Đồng đến năm 2010.

Điều 2: Giao cho Cục trưởng Cục thuế tỉnh phối hợp với các Sở, ngành, các địa phương trong tỉnh xây dựng kế họach triển khai thực hiện nội dung Đề án "Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá, tăng tốc thu NSNN tỉnh Lâm Đồng đến năm 2010” kèm theo Quyết định này.

Điều 3: Giao cho Giám đốc các Sở, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt căn cứ vào tình hình thực tế và các định hướng về chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh và của từng địa phương có trách nhiệm phối hợp với ngành thuế chỉ đạo, triển khai thực hiện đề án thu ngân sách giai đoạn 2006-2010 thuộc phạm vi ngành và địa phương mình quản lý; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng, ổn định, khuyến khích thu hút đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các thành phần kinh tế trên từng địa bàn.

Điều 4: Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký.

Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Cục trưởng Cục thuế, Giám đốc các Sở, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã Bảo Lộc và thành phố Đà Lạt chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này ./-

 

 

TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH




Huỳnh Đức Hòa

 

ĐỀ ÁN

MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ, TĂNG TỐC THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH LÂM ĐỒNG GIAI ĐOẠN 2006 - 2010
(Ban hành kèm theo Quyết định số 40/2006/QĐ-UBND ngày 06 th áng 7 n ăm 2006 của UBND tỉnh Lâm Đồng )

PHẦN THỨ NHẤT

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ TRONG THỜI KỲ 2001-2005

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ Lâm Đồng lần thứ VII- nhiệm kỳ 2001-2005, công tác quản lý thu thuế trên địa bàn đã đạt được những kết quả đáng kể, nhất là 3 năm gần đây có tốc độ tăng khá.

Đạt được kết quả đó, là do sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh; sự chỉ đạo song trùng của UBND tỉnh và Bộ Tài chính - Tổng Cục thuế; sự phối hợp của các sở, ban, ngành, đoàn thể trên địa bàn; sự chấp hành nghiêm túc nghĩa vụ thuế của các tổ chức, cá nhân nộp thuế và cùng với sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ công chức ngành thuế đã hoàn thành tốt nhiệm vụ thu NSNN.

I. Kết quả thực hiện quản lý thu thuế thời kỳ 2001-2005:

1. Tình hình triển khai thực hiện Đề án:

Triển khai thực hiện Đề án đổi mới tổ chức và quản lý thu thuế của ngành thuế Lâm Đồng đến năm 2010 (dưới đây gọi tắt là Đề án) trong điều kiện nền kinh tế có những khó khăn như: thiên tai, dịch cúm gia cầm, giá cả một số mặt hàng thiết yếu có biến động mạnh làm tăng chi phí đầu vào, ảnh hưởng đến hoạt động SXKD; song cũng có những thuận lợi cơ bản, đó là:

- Nghị quyết Hội nghị Tỉnh ủy giữa nhiệm kỳ về phát triển kinh tế xã hội cho 2 năm còn lại (2004-2005) của giai đoạn 2001-2005, Nghị quyết đã đề ra các chỉ tiêu định hướng về tăng trưởng kinh tế, các giải pháp, cơ chế về thu hút đầu tư, phát triển SXKD-DV, xác định 6 chương trình trọng tâm và 6 công trình trọng điểm của tỉnh...

- Tình hình kinh tế xã hội của Tỉnh qua các năm vẫn tiếp tục phát triển, hầu hết các chỉ tiêu đều đạt khá. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm thời kỳ 2001-2005 đạt 10,7% (giá so sánh 1994). Đặc biệt trong giai đoạn 2003 - 2005 nền kinh tế Lâm đồng có bước phát triển đột phá, GDP tăng bình quân 17,2%/ năm, tạo điều kiện có tính quyết định tăng nguồn thu NSNN.

- Các luật đất đai, luật doanh nghiệp, các luật thuế và các chế độ thu về tài chính, thuế, phí đã được Nhà nước sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực.

- Ngành thuế và các ngành, các địa phương trong quá trình triển khai thực hiện cải cách hành chính đã cải tiến nhiều thủ tục, thực hiện tốt quy chế công khai, dân chủ, tạo thuận lợi cho nhân dân và tổ chức, cá nhân nộp thuế thực hiện đầy đủ chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Từ những yếu tố cơ bản trên đây đã tác động đến việc thực hiện công tác thu ngân sách trong giai đoạn 2001-2005 và kết quả 2 năm (2004-2005) thực hiện Đề án đã đạt được những kết quả khả quan.

2. Mục tiêu, nhiệm vụ:

Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng Bộ lần thứ VII đã đề ra trong giai đoạn (2001-2005) với mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP bình quân hàng năm từ 11 - 12%. Tỷ lệ huy động thuế phí vào NSNN là 9 -> 10% trên GDP.

- Dự toán thu ngân sách hàng năm HĐND, UBND Tỉnh giao trong 5 năm

( 2001-2005) là 3.182,8 tỷ; trong đó, thuế phí là 2.264 tỷ.

- Mục tiêu Đề án xác định thu NSNN trong giai đoạn 5 năm (2001-2005) là 2.983 tỷ; trong đó, thuế phí là 2.094 tỷ, tỷ lệ huy động 9,75%/GDP (2.094/21.459 tỷ).

Từ mục tiêu, nhiệm vụ thu ngân sách nêu trên, ngành thuế đã cụ thể hoá thành Chương trình hành động của ngành, thực hiện tốt việc phân công, phân cấp rõ ràng, từng bước đã hoàn thiện các cơ chế quản lý, tăng cường công tác chỉ đạo, đổi mới phương pháp điều hành trên từng lĩnh vực và triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý, khai thác nguồn thu, chống thất thu ngân sách.

3. Kết quả thực hiện:

3.1. Tình hình thu NSNN giai đoạn 5 năm (2001-2005):

Trong 5 năm đã thu 3.594 tỷ, vượt 20,5% so với mục tiêu Đề án (3.594/2.983 tỷ); vượt 13% (3.594/3.183 tỷ) so với nhiệm vụ HĐND và UBND tỉnh giao. Tỷ lệ huy động bình quân thu NSNN trên GDP là 15,1%/năm (3.594 /23.814 tỷ).

Trong đó, thuế phí trong 5 năm đã thu 2.366 tỷ đồng, đạt 113% so với mục tiêu Đề án (2.366/2.094 tỷ); đạt 104,4% so với nhiệm vụ tỉnh giao (2.366/2.266 tỷ). Tỷ lệ huy động bình quân thu thuế phí trên GDP là 10% (2.366/23.814 tỷ).

- Đối chiếu với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần VII và mục tiêu Đề án thì trong 5 năm (2001-2005) thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn đã có nhiều tiến bộ rõ rệt, năm sau có tốc độ tăng trưởng cao hơn năm trước, tổng thu NSNN và số thu về thuế phí bảo đảm mục tiêu và đạt tỷ lệ động viên mà Nghị quyết Đại hội đề ra (9-10%); Đồng thời hoàn thành vượt mức dự toán thu do HĐND và UBND tỉnh giao hàng năm.

- Tổng thu NSNN năm sau cao hơn năm trước: Năm 2001 thực hiện 417 tỷ (tăng 2,2%), năm 2002 là 483 tỷ (tăng 15,8%), năm 2003 là 624 tỷ (tăng 29,2%), năm 2004 là 903 tỷ (tăng 44,7%), năm 2005 là 1.167 tỷ (tăng 29,2%). Trong đó: Thuế phí năm 2001 thực hiện 288 tỷ (tăng 7,9%), năm 2002 là 319 tỷ (tăng 10,8%), năm 2003 là 418 tỷ (tăng 31%), năm 2004 là 586 tỷ (tăng 40,2%), năm 2005 là 755 tỷ (tăng 28,8%).

- Thuế phí và các lĩnh vực thu quan trọng như thu từ DNNN, thu từ khu vực CTN/NQD vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu thu NSNN trên địa bàn, trong đó lĩnh vực DNNN chiếm 17%, CTN-NQD chiếm 24%, thuế GTGT-TNDN chiếm 40%.

3.2. Kết quả thu NSNN 2 năm thực hiện Đề án (2004-2005):

a) Nhiệm vụ thu NSNN: Theo mục tiêu của Đề án trong 2 năm 2004-2005 thu NSNN: 1.460 tỷ; Trong đó: Thuế phí: 1.068 tỷ. Nghị quyết HĐND tỉnh và UBND tỉnh giao nhiệm vụ thu NSNN trong 2 năm 2004 - 2005 là 1.791 tỷ đồng, tăng 22,6% so với chỉ tiêu Đề án; Trong đó: Thuế phí: 1.245 tỷ đồng, tăng 16,5% so với chỉ tiêu Đề án.

b) Kết quả thực hiện:

- Tổng thu NSNN 2 năm 2004-2005 là: 2.070 tỷ, đạt 141,8% so với chỉ tiêu Đề án (2.070/1.460); Đạt 116 % (2.070/1.791 ) so với dự toán HĐND và UBND tỉnh giao. Trong đó: Số thu về thuế phí: 1.341 tỷ đồng đạt 125,6 % so với chỉ tiêu Đề án (1.341/1.068); Đạt 107,7% (1.341/1.245) so với dự toán Tỉnh giao. Trong đó:

Năm 2004 tổng thu NS: 903 tỷ đạt 136,8% so với chỉ tiêu Đề án (903/660); Đạt 130,5 % (903/691) so với dự toán Tỉnh giao; Trong đó: Thuế phí: 586 tỷ đạt 117,7 % so Đề án, đạt 117,7 % so dự toán Tỉnh giao. Năm 2005 tổng thu NS: 1.167 tỷ đạt 145,9 % so với chỉ tiêu Đề án (1.167/800); Đạt 106,1 % (1.167/1.100) so với dự toán Tỉnh giao; Trong đó: Thuế phí: 755 tỷ đạt 132,5 % so Đề án, đạt 101% so dự toán Tỉnh giao.

- Tỷ lệ huy động thu NSNN và thuế phí đạt khá so với GDP ( 2 năm 2004 - 2005) đây là giai đoạn có tốc độ thu tăng nhanh và số thu tuyệt đối lớn đã góp phần cho cả giai đoạn 2001-2005 hoàn thành chỉ tiêu Đại hội Tỉnh Đảng bộ đề ra, đó là: Tổng thu NSNN so với GDP là 2.070/12.695 tỷ đạt 16,3 %; Tỷ lệ huy động thuế phí trên GDP 1.341/12.695 tỷ đạt 10,6 %.

4. Những nguyên nhân tác động đến kết quả thu ngân sách:

a) Về công tác chỉ đạo điều hành: Được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo sâu sát; Đặc biệt là UBND tỉnh đã có Chỉ thị số 11/2004/CT-UB ngày 07/4/2004 về việc triển khai Đề án và Quyết định số 2628/QĐ-UB ngày 05/7/2004 phê duyệt kế hoạch triển khai thực hiện Đề án quản lý thuế làm cơ sở cho các sở, ban, ngành, đoàn thể, địa phương trong tỉnh cụ thể hóa thành các mục tiêu, nhiệm vụ, lộ trình và các giải pháp thực hiện trên địa bàn góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu KTXH, dự toán thu NSNN năm 2004-2005 và cả giai đoạn 2001-2005 của mỗi ngành, đơn vị, địa phương.

- Đối với các sở, ban ngành, đoàn thể của Tỉnh: Đã phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách và tham gia xây dựng các đề án quản lý thuế theo chuyên đề để trình UBND tỉnh phê duyệt: Đề án quản lý thuế đối với hoạt động KD du lịch-dịch vụ du lịch đến năm 2010; Đề án ủy nhiệm thu cho UBND xã, phường, thị trấn; Phê duyệt tiêu thức phân cấp quản lý thuế; Xây dựng qui chế phối hợp giữa ngành thuế và ngành Công an; Hàng năm cùng với các sở, ngành, địa phương trong tỉnh rà soát các khoản phí lệ phí, mức thu trong thẩm quyền của địa phương đề xuất, báo cáo UBND trình HĐND tỉnh phê chuẩn; Tham mưu cho UBND tỉnh ban hành chỉ thị triển khai thực hiện chiến lược cải cách, hiện đại hóa hệ thống thuế đến năm 2010 trên địa bàn tỉnh...

+ Đối với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các huyện, thị xã, thành phố đã xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai nội dung đề án để thực hiện nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn và xây dựng các chuyên đề quản lý đối với một số nguồn thu trọng tâm, như TP Đà Lạt đã xây dựng Đề án quản lý thuế đối với kinh doanh khách sạn, nhà nghỉ, xây dựng lộ trình quy định giá buồng phòng tối thiểu cho từng giai đoạn đến năm 2010; TX Bảo Lộc và các huyện Bảo Lâm, Di Linh, Đức Trọng, Lâm Hà xây dựng chuyên đề quản lý thu thuế đối với hoạt động KD hàng nông sản (cà phê, chè, dâu tằm...).

+ Đối với cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các xã, phường, thị trấn đã triển khai thực hiện có hiệu qủa Đề án ủy nhiệm thu, gắn quản lý thu NSNN với quản lý kinh tế xã hội trên địa bàn, phát huy tính chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của chính quyền cấp cơ sở và các tổ chức đoàn thể xã hội trong quản lý khai thác nguồn thu trên địa bàn nhằm thu đúng, thu đủ các khoản thuế, phí, hạn chế nợ đọng thuế, góp phần thực hiện cải cách hành chính thuế.

- Đối với ngành thuế: Đã kịp thời triển khai thực hiện Đề án với các văn bản chính sách chế độ thu của Chính phủ, Bộ Tài chính, Tổng cục thuế để áp dụng trên địa bàn; tổ chức theo dõi bám sát thực tiễn, phối hợp đồng bộ với từng địa phương, các sở, ban ngành, đoàn thể các cấp… nắm chắc đối tượng quản lý, thực hiện nhiệm vụ thu ngay từ đầu năm, chú trọng chỉ đạo những địa bàn, nguồn thu trọng điểm để tăng cường quản lý và chống thất thu có hiệu quả.

b) Cải tiến và nâng cao hiệu quả công tác quản lý:

Công tác quản lý thu thuế đã được cải tiến, đổi mới phương pháp quản lý theo hướng nâng cao quyền chủ động, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của tổ chức, cá nhân nộp thuế trong việc kê khai, nộp thuế, cơ quan thuế bỏ thông báo thuế hàng tháng, tăng cường công tác hỗ trợ, thanh kiểm tra, giám sát sự tuân thủ pháp luật thuế để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý, kiểm soát chặt chẽ được tất cả các đối tượng chịu thuế cũng như tổ chức và cá nhân nộp thuế, giảm thiểu tối đa thất thu thuế, bảo đảm thu đúng, thu đủ và kịp thời các khoản thu vào ngân sách Nhà nước. Trọng tâm là:

- Công tác phân tích, dự báo và giao dự toán thu được tiến hành chặt chẽ, khoa học, phù hợp với mức tăng trưởng kinh tế trên địa bàn, phục vụ tốt cho công tác điều hành thu NSNN hàng năm, đảm bảo tăng thu so mục tiêu, lộ trình Đề án và vượt dự toán thu hàng năm. Mở rộng diện nộp thuế trực tiếp qua kho bạc.

- Thực hiện quản lý thuế theo chuyên đề, tâp trung vào các lĩnh vực kinh tế chủ yếu của địa phương để quản lý tốt các nguồn thu trọng điểm, khuyến khích SXKD phát triển: Đề án quản lý thuế đối với hoạt động du lịch - dịch vụ du lịch đến năm 2010. Chuyên đề quản lý thu thuế đối với kinh doanh cà phê đã có tác dụng, hiệu quả, có tính đột phá, trong 2 năm 2004 - 2005 đã quản lý thu 308 tỷ, chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng số thu về thuế phí 22,93% ( 308/1.343 tỷ ).

- Đẩy mạnh công tác phân cấp quản lý nguồn thu và thực hiện có hiệu quả công tác ủy nhiệm thu cho xã, phường, thị trấn theo đề án được Bộ Tài chính, UBND tỉnh phê duyệt. Tính đến 31/3/2006 đã phân cấp cho các Chi cục thuế quản lý: 955/1329 DN/NQD, chiếm 72% tổng DN/NQD toàn tỉnh và 34/111 chi nhánh thuế các DN/NQD chiếm 31% theo tiêu thức phân cấp UBND tỉnh phê duyệt. Năm 2005 đã triển khai thực hiện đề án mở rộng ủy nhiệm thu một số khoản thuế, phí trên địa bàn cho UBND xã, phường, thị trấn cho 112/145 đơn vị xã, phường, thị trấn, tổng số hộ ủy nhiệm thu là 134.974 hộ (trong đó thuế CTN/NQD là 7.873 hộ, thuế nhà đất là 113.475 hộ).

- Phối hợp với các ngành, tổ chức rà soát lại quỹ đất để sử dụng đất có hiệu quả, thực hiện các thủ tục địa chính, giao đất, cho thuê đất, xác định gía, tổ chức đấu giá đất, đấu thầu công khai đúng theo quy định của Luật Đất đai và tham mưu cho UBND tỉnh trình HĐND tỉnh phê duyệt điều chỉnh gía đất hàng năm phù hợp với thực tế làm cơ sở cho việc giao dịch và xác định các nguồn thu hợp lý, khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên, đất đai, công sản để tăng thu, đáp ứng nhu cầu chi ngân sách; góp phần thực hiện chi về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ đời sống nhân dân, tạo môi trường thuận lợi cho SXKD phát triển.

- Thẩm định các phương án đầu tư để thực hiện các chính sách ưu đãi, miễn giảm thuế TNDN, tiền thuê đất và hoàn thuế kịp thời, đúng chế độ cho các doanh nghiệp, hộ nộp thuế; Từ đó đã giúp các doanh nghiệp bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển SXKD.

+ Đã miễn giảm thuế TNDN 2 năm 2004-2005 theo quyết toán thuế năm 2003-2004 của 103 lượt đơn vị, số thuế miễn giảm là 36,1 tỷ đồng ( Năm 2004 cho 48 đơn vị, số thuế là 15,3 tỷ; Năm 2005 cho 55 đơn vị, số thuế là 20,8 tỷ); Đối với DN có vốn ĐTNN đã miễn giảm về thuế TNDN 3,8 tỷ đồng, tiền thuê đất: 613,2 ngàn USD.

+ Đã giải quyết hoàn thuế 2 năm 2004-2005 cho 105 lượt DN (188 hồ sơ), số thuế hoàn là 104,7 tỷ đồng ( Năm 2004 cho 40 DN (86 hồ sơ), số thuế hoàn là 41,4 tỷ đồng; Năm 2005 cho 65 DN (102 hồ sơ), số thuế hoàn là 63,3 tỷ đồng).

- Trong công tác quản lý ĐTNT: Đã quản lý thông qua đăng ký cấp mã số thuế cho các tổ chức, cá nhân nộp thuế đang hoạt động tính đến 31/12/2005 đã cấp 26.015 mã số thuế (trong đó có 24.675 MS chính), tăng 8% so với thời điểm 31/12/2003 là 24.070 mã số thuế (trong đó có 22.850 MS chính).

c) Chỉ đạo chặt chẽ công tác cải cách thủ tục hành chính thuế, tăng cường kỷ cương, kỷ luật và hiện đại hóa công tác quản lý thuế:

Ngành thuế đã đẩy mạnh công tác cải cách hành chính thuế toàn diện theo cơ chế “một cửa” đối với tất cả các khâu, để đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính của Nhà nước, chuyển đổi toàn diện về tư duy và phương thức quản lý theo hướng phục vụ tổ chức, cá nhân nộp thuế và tăng cường công tác kiểm tra nhằm thực hiện tốt các luật, chính sách thuế, xóa bỏ các phiền hà gây tốn kém cho người nộp thuế; Cụ thể là:

- Thực hiện cải cách hành chính một số khâu trong quản lý, như: Rút ngắn thời gian, thủ tục đăng ký cấp mã số thuế; mua hóa đơn; bỏ thủ tục tổ chức, cá nhân nộp thuế đề nghị cơ quan thuế quyết định mức miễn giảm thuế TNDN mà do doanh nghiệp tự xác định số thuế được miễn giảm theo luật định... Quy định rõ ràng và niêm yết công khai các bước công việc, bộ phận, thời gian giải quyết từng công việc để các tổ chức, cá nhân nộp thuế biết, thực hiện.

- Không ngừng đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra trong các tổ chức, cá nhân nộp thuế và trong nội bộ ngành trên các lĩnh vực quản lý và hành thu, nâng cao chất lượng và số lượng cán bộ làm công tác thanh, kiểm tra; thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa ngành thuế và Công an, tạo nên sức mạnh tổng hợp về công tác thanh tra. Qua công tác thanh tra, kiểm tra tổ chức, cá nhân nộp thuế và kiểm tra quyết toán thuế đã chấn chỉnh, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật thuế, đã hạn chế vi phạm, thực hiện nghiêm các luật thuế và có tác dụng trong quản lý nội bộ ngành...

- Đã củng cố, đầu tư và phát triển hệ thống tin học, nâng cao việc ứng dụng công nghệ thông tin - tin học vào quản lý thuế, xây dựng Trang thông tin thuế Lâm Đồng đưa lên mạng thông tin Tỉnh, trên Internet giúp cho tổ chức, cá nhân nộp thuế và nhân dân dễ dàng tìm hiểu chính sách, pháp luật thuế. Hệ thống mạng thông tin, trang thiết bị tin học đã đáp ứng cơ bản các yêu cầu trao đổi thông tin, truyền nhận các loại báo cáo trong hệ thống ngành thuế và UBND tỉnh; Thực hiện cập nhật đầy đủ thông tin của các đối tượng nộp thuế, kịp thời kết chuyển nợ đọng thuế, kết sổ bộ thuế hàng tháng... phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành, đôn đốc thu. Bên cạnh đó đã tăng cường đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng về kỹ thuật quản trị mạng, về công tác tin học, kỹ năng sử dụng các chương trình ứng dụng quản lý thuế, khai thác dữ liệu, truyền tin... cho cán bộ công chức, góp phần vào công cuộc cải cách và hiện đại hoá hệ thống thuế.

- Công tác tổ chức cán bộ đã được kiện toàn, nâng cao hiệu lực quản lý và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ công chức. Thực hiện sắp xếp, đề bạt bổ nhiệm, luân chuyển, luân phiên cán bộ, quy hoạch cán bộ, tăng cường cán bộ Lãnh đạo quản lý ở các đơn vị trong ngành, bố trí cán bộ tham gia các lớp đào tạo chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ công chức thuế; tất cả cán bộ công chức thuế đều được học tập về chiến lược cải cách, hiện đại hóa hệ thống thuế đến năm 2010; tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ cán bộ thuế giỏi...

- Công tác thi đua khen thưởng trong và ngoài ngành được duy trì liên tục trong các năm, lấy mục tiêu hoàn thành suất sắc nhiệm vụ chính trị của địa phương, của ngành, chỉ tiêu thu nộp thuế của tổ chức, cá nhân nộp thuế làm thước đo để xét thi đua khen thưởng cho cán bộ công chức, tập thể trong ngành và tôn vinh kịp thời các tổ chức, cá nhân nộp thuế tốt.

d) Phát huy sức mạnh tổng hợp cả hệ thống chính trị tham gia, giám sát công tác thu ngân sách, thực hiện xã hội hóa về thuế:

- Ngành thuế đã phối hợp chặt chẽ với Hội đồng tuyên truyền pháp luật của Tỉnh và các cấp, các ngành, UBMTTQVN, các đoàn thể từ Tỉnh đến cơ sở đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục chính sách pháp luật về thuế; sơ kết, tiếp tục vận động nhân dân thực hiện nghĩa vụ thuế; đặc biệt đã tổ chức thành công cuộc thi tìm hiểu về pháp luật thuế trong nhân dân, trong trường học có hiệu quả với hơn 32.000 bài dự thi, có nhiều bài đạt chất lượng cao được Ban tổ chức trao giải thưởng nên đã có tác dụng tốt trên địa bàn nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc trong Tỉnh cùng thực hiện công tác thu ngân sách.

- Nâng cao chất lượng công tác hỗ trợ, hướng dẫn, đối thoại, giải đáp các vướng mắc cho các tổ chức, cá nhân nộp thuế; phổ biến kịp thời các chế độ, chính sách thuế mới... để cơ sở kinh doanh hiểu rõ và thực hiện tốt nghĩa vụ thuế. Thực hiện xã hội hóa về thuế, bằng các hình thức công khai đối tượng quản lý thu thuế, số thuế phải nộp cho NSNN hàng năm để nhân dân tham gia giám sát, đóng góp cho ngành thuế về công tác quản lý thu, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra”. Đồng thời đã lấy việc chấp hành nghĩa vụ thuế là một trong những tiêu chí quan trọng để xét gia đình đạt văn hóa trong cộng đồng dân cư ( khu phố, thôn, bản...)

II. Một số tồn tại:

- Trong Đề án, khi xây dựng mục tiêu, lộ trình chưa lường hết những tình huống phát sinh, phát triển, do vậy khi thực hiện chỉ tiêu kinh tế tăng cao so đề án, từ đó số thu tăng tương ứng nên thực tiễn có vượt trội trước thời hạn so với lộ trình đề ra, do đó, cần phải được điều chỉnh, bổ sung kịp thời.

- Môi trường đầu tư của Tỉnh thông thoáng và sự phối hợp với các ngành, địa phương có tiến bộ, chặt chẽ hơn, song trong thực tiễn vẫn có một số khâu giải quyết còn chậm, chưa được đồng bộ, nhất là công tác đền bù giải phóng mặt bằng, công tác giao đất chưa kịp thời, mức độ thu hút đầu tư còn thấp nên ảnh hưởng đến kết quả thu NSNN.

- Về phân cấp quản lý nguồn thu và ủy nhiệm thu cho xã, phường, thị trấn đã được sự đồng tình ủng hộ của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, nhưng một số nguồn thu chưa có tỷ lệ điều tiết phù hợp, đặc biệt là nguồn thu từ thuế phí ủy nhiệm thu cho xã, phường, thị trấn để tạo tính chủ động và khuyến khích khai thác nguồn thu từ cơ sở.

- Trình độ nghiệp vụ về quản lý của công chức thuế có nâng cao, cơ sở vật chất tuy có đầu tư nhưng so với yêu cầu hiện đại hóa ngành thuế thì vẫn còn một bộ phận CBCC thuế trình độ nghiệp vụ còn hạn chế cần phải tiếp tục đầu tư, đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.

- Trong thực tiễn vẫn còn một số tổ chức, cá nhân có biểu hiện kê khai thuế chưa sát với thực tế kinh doanh, còn để nợ đọng thuế dây dưa.

III. Những bài học kinh nghiệm:

1. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác thu ngân sách, đây là yếu tố cực kỳ quan trọng thể hiện sự đồng tình của cấp ủy, chính quyền, sở, ngành, đoàn thể các cấp đã xác định nhiệm vụ thu ngân sách là của địa phương mình, ngành mình từ đó đã chỉ đạo, điều hành, phối hợp chặt chẽ, đồng bộ và có hiệu quả với cơ quan thuế, trong cung cấp thông tin và áp dụng các biện pháp hỗ trợ để thu đúng, thu đủ, thu kịp thời tiền thuế vào NSNN.

2. Phân công, phân cấp rõ ràng trong quản lý nguồn thu, tránh chồng chéo giữa các cấp, nhất là cấp huyện, thị xã, thành phố và ủy nhiệm thu cho UBND xã, phường, thị trấn, gắn quản lý thu NSNN với quản lý kinh tế xã hội trên địa bàn nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của chính quyền địa phương.

3. Việc phân cấp quản lý nguồn thu phải gắn với tỷ lệ điều tiết ngân sách từng cấp, để địa phương được phân cấp, uỷ nhiệm thu đảm bảo tính chủ động khai thác các nguồn thu để thực hiện những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội tại địa phương. Thời gian thực hiện phân cấp phải phù hợp với thời kỳ ổn định ngân sách ở địa phương, trên cơ sở tăng tỷ lệ điều tiết ngân sách cho cơ sở, hạn chế việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới. Đồng thời có chính sách thưởng vuợt thu để khuyến khích các địa phương, các sở, ban, ngành, đoàn thể tham gia tích cực vào công tác thu ngân sách, khai thác nguồn thu, chống thất thu có hiệu quả góp phần tăng thu NSNN.

4. Xây dựng và thực hiện quản lý thuế theo chuyên đề để tâp trung quản lý vào các lĩnh vực kinh tế chủ yếu của địa phương vừa tạo điều kiện thuận lợi, giúp các doanh nghiệp đầu tư phát triển thực hiện đúng luật thuế vừa khai thác tốt nguồn thu trọng điểm đảm bảo tăng thu và khuyến khích được sản xuất kinh doanh phát triển.

5. Mấu chốt có tính quyết định để tăng thu và đảm bảo nguồn thu NSNN ổn định phải dựa trên cơ sở nền kinh tế phát triển nhanh, bền vững thì nguồn thu ngân sách mới tăng trưởng tương ứng. Do đó, phải có chính sách khuyến khích, thu hút đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, dịch vụ phát triển, có tính đột phá, tăng tốc và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế về công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong GDP.

Bên cạnh đó, việc mở rộng hay thu hẹp về cơ chế chính sách thu của Trung ương nói chung và nhất là các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành nói riêng cũng ảnh hưởng lớn làm tăng hoặc giảm mạnh số thu ngân sách tại địa phương; vì đây là những doanh nghiệp có doanh thu chiếm tỷ trọng lớn trong GDP hàng năm.

PHẦN THỨ HAI

QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP ĐỘT PHÁ, TĂNG TỐC THU NGÂN SÁCH GIAI ĐOẠN 2006 - 2010

I. Quan điểm chỉ đạo về công tác quản lý thu:

- Thuế và phí là công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, phát huy cao độ các nguồn lực để phát triển nhanh sức sản xuất, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư, nhất là đầu tư áp dụng công nghệ cao, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước nói chung và tỉnh nhà nói riêng.

- Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách ưu đãi về thuế cho các cơ sở SXKD thuộc diện ưu đãi thuế theo Luật; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển SXKD-DV nhằm bồi dưỡng nguồn thu và tạo ra nguồn thu mới cho ngân sách.

- Thuế phí vừa phải đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết hợp lý cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, vừa phải dành một phần cho tích luỹ để tái đầu tư; do đó tỷ lệ huy động về thuế phí trong GDP ở địa phương tỉnh ta vừa phải bảo đảm tính hợp lý, vừa đúng luật, vừa phải căn cứ vào định hướng tại các nghị quyết của Tỉnh uỷ, HĐND Tỉnh để làm cơ sở cho việc quản lý thu, theo nguyên tắc “Thuế chỉ tăng thu trên cơ sở nền kinh tế phát triển vững chắc”.

- Công tác quản lý thuế cần hiện đại hoá, nâng cao năng lực của bộ máy quản lý thuế, hạn chế đến mức thấp nhất các hành vi gian lận thuế, chống thất thu ngân sách; hệ thống tổ chức cán bộ ngành thuế phải được tiếp tục kiện toàn, trong sạch, vững mạnh theo hướng chuyên sâu, chuyên nghiệp, tăng cường trật tự, kỷ cương, chấp hành pháp luật, đặc biệt là trong việc tổ chức triển khai thi hành các cơ chế chính sách về thuế để từng bước lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, tài chính doanh nghiệp, tài chính dân cư; đảm bảo môi trường pháp lý bình đẳng trước pháp luật, đảm bảo mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế, thực hiện công bằng xã hội.

II. Mục tiêu, nhiệm vụ và lộ trình thu NSNN giai đoạn 2006 - 2010:

1. Mục tiêu:

Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII nhiệm kỳ 2006 - 2010 đề ra tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm từ 13% - 14%, tỷ lệ huy động tổng thu ngân sách trên GDP đạt từ 15% - 16 %. Trong đó thuế phí từ 12% - 13%. Theo quan điểm chỉ đạo của Bộ Tài chính thì thu NSNN giai đoạn 2006 - 2010 phải gấp hai lần giai đoạn 2001- 2005. Căn cứ các chỉ tiêu trên mục tiêu đề án xác định như sau:

- Thu ngân sách phải đảm bảo cơ cấu về huy động thuế phí ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong tổng thu NSNN địa bàn, đây là yếu tố có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc tập trung nguồn lực phục vụ nhu cầu chi tiêu một cách ổn định và bền vững.

- GDP theo giá hiện hành năm 2005 của tỉnh là: 7.168 tỷ và tốc độ tăng bình quân hàng năm của giai đoạn 2006-2010 từ 13% - 14% cộng với yếu tố trượt giá từ 9% - 10 %/ năm do đó dự kiến GDP thực tế tăng bình quân hàng năm từ 22% - 23%.

2. Nhiệm vụ:

- Nhiệm vụ thu NSNN năm 2006 là 1.350 tỷ và phấn đấu đến năm 2010 đạt từ 3.200 tỷ đến 3.500 tỷ; Xác định tổng thu NSNN giai đoạn 2006-2010 đạt từ 10.750 tỷ đến 11.050 tỷ, bằng 2,99 lần đến 3,08 lần so với tổng thu của giai đoạn 2001-2005; vượt so với mục tiêu chung của cả nước từ 0,99 lần đến 1,08 lần.

Trong đó: Thuế phí đạt từ 8.065 tỷ đến 8.345 tỷ, so với thực hiện giai đoạn 2001 - 2005 bằng 3,4 lần đến 3,53 lần, tốc độ tăng bình quân hàng năm từ 26% đến 30%. Riêng năm 2010 so với năm 2009 tăng từ 34,7 % đến 49,5 %.

- Tỷ trọng thuế phí trong tổng thu NSNN tăng từ 69% (2006) lên 81% (2010) và tỷ trọng số thu ngoài thuế phí sẽ giảm dần từ 31% (2006) xuống còn 19% (2010).

Như vậy với nhiệm vụ thu NSNN giai đoạn 2006 - 2010 đã xác định như trên đạt cả yêu cầu về mục tiêu huy động về tổng thu cũng như thuế phí trên GDP của Nghị quyết Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII đã đề ra và vượt yêu cầu về tăng gấp 2 lần tổng thu NS của giai đoạn 2001-2005 theo định hướng của Bộ Tài chính.

3. Lộ trình thu NSNN phân kỳ qua từng năm:

3.1. Năm 2006 dự toán thu là: 1.350 tỷ, Trong đó: Thuế phí thu 935 tỷ; so năm trước tổng thu tăng 16%, Thuế phí tăng 24%.

- GDP năm 2006 dự kiến là 8.450 tỷ, tăng 18% so năm 2005. Tỷ lệ huy động tổng thu trên GDP là 16%, trong đó thuế phí đạt 11% so với GDP.

- Tỷ trọng thuế phí chiếm 69% (935 tỷ /1.350 tỷ) trong tổng thu NSNN.

3.2. Năm 2007 dự toán thu là: 1.650 tỷ, Trong đó: Thuế phí thu 1.180 tỷ; so năm trước tổng thu tăng 22,2%, Thuế phí tăng 26,2%.

- GDP năm 2007 dự kiến là 10.310 tỷ, tăng 22% so năm 2006. Tỷ lệ huy động tổng thu trên GDP 16%, trong đó thuế phí đạt 11,4% so với GDP.

- Tỷ trọng thuế phí chiếm 71,5% (1.180 tỷ /1.650 tỷ) trong tổng thu NSNN.

3.3. Năm 2008 dự toán thu là: 2.020 tỷ, Trong đó: Thuế phí thu 1.490 tỷ; so năm trước tổng thu tăng 22,5%, Thuế phí tăng 26,3%.

- GDP năm 2008 dự kiến là 12.640 tỷ, tăng 22,6% so năm 2007. Tỷ lệ huy động tổng thu trên GDP: 16%, trong đó thuế phí đạt 11,8 % so với GDP.

- Tỷ trọng thuế phí chiếm 73,7% (1.490 tỷ /2.020 tỷ) trong tổng thu NSNN.

3.4. Năm 2009 dự toán thu là: 2.530 tỷ, Trong đó: Thuế phí thu 1.900 tỷ; so năm trước tổng thu tăng 25,2 %, Thuế phí tăng 27,5 %.

- GDP năm 2009 dự kiến là 15.820 tỷ, tăng 25,2% so năm 2008. Tỷ lệ huy động tổng thu trên GDP: 16%, trong đó thuế phí đạt 12 % so với GDP.

- Tỷ trọng thuế phí chiếm 75,1% (1.900 tỷ /2.530 tỷ) trong tổng thu NSNN.

3.5. Năm 2010: Là năm cuối nhiệm kỳ đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII, năm phấn đấu quyết liệt để hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế xã hội mà Nghị quyết của đại hội đã đề ra, đồng thời cũng là năm mà nhiều công trình, dự án lớn của Tỉnh chính thức đi vào hoạt động, có đóng góp lớn cho ngân sách Nhà nước, do đó có thể nhận định đây sẽ là năm có tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như thu ngân sách tăng cao nhất của cả giai đoạn.Trước nhận định đó, dự kiến thu ngân sách năm 2010 như sau:

- Tổng thu từ 3.200 - 3.500 tỷ, Trong đó: Thuế phí thu từ 2.560 - 2.840 tỷ; so năm trước tổng thu tăng từ 26,5% - 38,3%, Thuế phí tăng từ 34,7% - 49,5%.

+ GDP năm 2010 dự kiến từ 20.000 – 21.900 tỷ, tăng từ 26,4% - 38,4% so năm 2009. Tỷ lệ huy động tổng thu trên GDP là 16%, trong đó thuế phí đạt từ 12,8% - 13% so với GDP.

+ Tỷ trọng thuế phí chiếm từ 80 % - 81% trong tổng thu NSNN.

III. Giải pháp đột phá, tăng tốc quản lý thu ngân sách:

1. Tập trung vào các khâu chủ yếu có tác động mạnh mẽ đến quản lý thu NS:

a) Triển khai pháp luật thuế, chế độ chính sách quản lý thu; mở rộng và đa dạng hoá công tác tuyên truyền, hỗ trợ tổ chức, cá nhân nộp thuế trên địa bàn:

- Triển khai sâu rộng, kịp thời pháp luật, chính sách thu ngân sách trên địa bàn; thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Hội đồng tuyên truyền giáo dục pháp luật, các cơ quan thông tin đại chúng và các sở ngành liên quan nhằm tuyên truyền sâu rộng pháp luật thuế trong mọi tầng lớp nhân dân.

- Mở rộng các hoạt động dịch vụ tư vấn và hỗ trợ tổ chức, cá nhân nộp thuế, qua đó tổ chức đối thoại, tiếp xúc, giải đáp chính sách thuế cho các tổ chức, cá nhân nộp thuế và giải quyết kịp thời các vướng mắc về chính sách thuế, đảm bảo tính thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế.

- Thông qua công tác tư vấn về thuế, giúp cho tổ chức, cá nhân nộp thuế nắm bắt kịp thời về hạch toán kinh tế, hạch toán kế toán, từng bước phát huy tính chủ động về khả năng kinh doanh, khả năng tài chính trong việc quản lý và hoạch định các chương trình đầu tư và phát triển kế hoạch thu nộp ngân sách thông qua kết quả hoạt động SXKD của mình và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật Nhà nước về kết quả đó; đồng thời tăng cường trách nhiệm, quyền hạn kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý Nhà nước để đảm bảo pháp luật thuế được thực thi nghiêm túc.

- Xây dựng và cập nhật thường xuyên thông tin, tài liệu... lên Trang thông tin Thuế Lâm Đồng trên Internet tuyên truyền mạnh mẽ pháp luật, chính sách chế độ thuế, hỗ trợ, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tra cứu thông tin về thuế của tổ chức, cá nhân nộp thuế và nhân dân.

b) Triển khai thực hiện nghiêm túc các quy trình quản lý, đẩy mạnh cải cách hành hành chính:

- Các quy trình quản lý thuế, thanh kiểm tra, quản lý thu nợ, quản lý ấn chỉ, v.v... phải được triển khai thực hiện đồng bộ, có hiệu quả và phải được tuân thủ nghiêm ngặt nhằm cải cách mạnh thủ tục hành chính thuế, giảm phiền hà, tạo thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân nộp thuế, đồng thời làm cơ sở cho việc tin học hoá, chuyên nghiệp hoá công tác quản lý thu thuế.

- Thực hiện đảm bảo lộ trình Cải cách, hiện đại hoá ngành Thuế đến năm 2010 theo Quyết định 201/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định 1629/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, Quyết định 20/2006/QĐ-UB của UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành.

- Đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính về thuế, cắt giảm các hồ sơ, thủ tục không cần thiết; thực hiện tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả theo cơ chế “một cửa” tập trung vào các khâu: Đăng ký thuế, bán hoá đơn, cấp Chứng chỉ tình trạng thuế cho cá nhân đi nước ngoài, giảm đến mức tối thiểu thời gian giải quyết các thủ tục hành chính thuế, giảm thời gian đi lại cho tổ chức, cá nhân nộp thuế và nhân dân.

c) Đẩy mạnh ứng dụng tin học phục vụ cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế đến năm 2010:

- Hiện đại hóa công tác quản lý thu thuế là nội dung quan trọng của cải cách nền hành chính thuế. Việc áp dụng một hệ thống quản lý thuế được tin học hóa sẽ giúp ngành thuế giảm bớt gánh nặng công việc, hợp lý hóa các quy trình thủ tục, đồng thời giúp cơ quan thuế tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực quan trọng góp phần làm tăng tính hiệu quả của quản lý thuế, thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của tổ chức, cá nhân nộp thuế, tăng cường hiệu quả công tác xử lý thông tin thuế, phát hiện nhanh các trường hợp vi phạm, hạn chế tình trạng trốn lậu, tránh thuế.

- Triển khai ứng dụng có hiệu quả các chương trình quản lý trên máy tính phục vụ ngày càng tốt hơn công tác chỉ đạo điều hành và quản lý thu thuế, bảo đảm số liệu luôn chính xác, thống nhất và ngày càng có nhiều khâu công việc về quản lý thu thuế được thực hiện trên hệ thống máy tính nhằm thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của tổ chức, cá nhân nộp thuế, tăng cường hiệu quả công tác xử lý thông tin thuế, phát hiện nhanh các trường hợp vi phạm pháp luật về thuế.

- Xây dựng, tập hợp và tổ chức khai thác có hiệu quả dữ liệu, thông tin về tổ chức, cá nhân nộp thuế trên mạng máy tính cùng với các chương trình ứng dụng khác phục vụ ngày càng tốt hơn công tác quản lý, công tác thanh tra; từng bước thực hiện quản lý thuế theo phương pháp hiện đại và thanh kiểm tra chống thất thu có hiệu quả.

- Thực hiện quản lý tất cả tổ chức, cá nhân nộp thuế qua mạng máy tính từ khâu đăng ký cấp mã số thuế đến việc tính thuế, lập bộ, chấm bộ đến việc kết xuất toàn bộ hệ thống sổ sách, báo cáo kế toán, thống kê từ các chương trình quản lý thuế; đồng thời đẩy mạnh thực hiện việc thanh toán thu nộp thuế qua Kho bạc Nhà nước. Đến năm 2010 có 60 - 70% tổ chức, cá nhân hoạt động tại các khu trung tâm thương mại trên địa bàn Phường, Thị trấn nộp thuế trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước.

d) Tăng cường công tác kiểm tra , thanh tra thuế:

- Theo cơ cấu tổ chức mới đã được quy định thì cơ quan thuế cấp Tỉnh có ít nhất 2 phòng Thanh tra và biên chế cho công tác thanh tra phải đảm bảo từ 20 - 30% so với tổng biên chế toàn ngành. Trình độ nghiệp vụ thanh tra phải được nâng lên một bước có tính đột phá. Đội ngũ làm công tác thanh tra phải được chọn lọc, cũng cố và sắp xếp lại theo hướng: Giỏi về nghiệp vụ chuyên môn, vững vàng về phẩm chất đạo đức, am hiểu các kiến thức nghiệp vụ pháp lý, nắm vững nguyên tắc xử lý các vi phạm về thuế, có kỷ năng xác lập biên bản và kết luận kiểm tra, thanh tra, có thái độ làm việc khách quan, trung thực. Hiệu quả của thanh tra thuế phải gắn liền với môi trường hành lang pháp lý, tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh phát huy, sử dụng đồng vốn và tài sản có hiệu quả để kích thích phát triển SXKD đạt hiệu quả và đúng pháp luật.

Trong xu thế mới, tổ chức, cá nhân nộp thuế tự xác định nghĩa vụ thuế của mình và tự kê khai, nộp thuế vào ngân sách, cơ quan thuế phải tăng cường kiểm tra, thanh tra các tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế, nợ thuế ... vì vậy cần phải thật sự đổi mới và nâng cao hiệu quả của công tác kiểm tra, thanh tra.

- Triển khai phân tích kiểm tra theo mức độ rủi ro và thông qua cơ sở dữ liệu quản lý thuế trên hệ thống máy tính, đối chiếu với báo cáo tài chính doanh nghiệp, tình hình chấp hành pháp luật thuế nắm được qua công tác quản lý thuế, qua phản ảnh của các cơ quan thông tin báo chí, kết quả phối hợp với các ngành, các địa phương có liên quan đến công tác quản lý thuế để chọn lựa doanh nghiệp cần thanh kiểm tra; thực hiện nghiêm túc quy trình công tác kiểm tra thanh tra theo đúng quy định của Ngành.

- Đẩy mạnh công tác chống thất thu thuế, siết chặt kỷ luật thu ngân sách trong tất cả các khu vực, các thành phần kinh tế, kết hợp với các lực lượng Công an thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa Ngành thuế và Công an Tỉnh, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong kiểm tra, thanh tra thuế; phối hợp với cơ quan Quản lý thị trường, Hải quan… chống gian lận thương mại, trốn thuế, tập trung vào các lĩnh vực kinh tế chủ yếu, các dự án lớn, đơn vị trọng điểm, ngành điện, XDCB, chè, cà phê, rau hoa, tài nguyên khoáng sản.

- Phân cấp rõ ràng phạm vi, đối tượng thanh kiểm tra giữa Cục và Chi Cục để không chồng chéo; chỉ tổ chức thanh kiểm tra các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có dấu hiệu vi phạm luật thuế, các hồ sơ hoàn thuế GTGT có dấu hiệu nghi vấn…; qua đó cương quyết xử lý kịp thời các trường hợp trốn lậu thuế, gian lận thương mại, chống nợ đọng thuế, thực hiện nghiêm các chế tài như: Xử phạt vi phạm về thuế, truy thu thuế, ra lệnh thu, lệnh phạt hoặc đình chỉ sử dụng hóa đơn, đưa tin các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân vi phạm lên các phương tiện thông tin đại chúng, các trường hợp cố tình không chấp hành nộp thuế, nộp phạt tiền thuế thì áp dụng biện pháp pháp cưỡng chế về thuế theo đúng quy định của pháp luật, thực hiện công bằng về nghĩa vụ thuế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp và hộ kinh doanh.

2. Đột phá vào các ngành, lĩnh vực kinh tế trọng điểm chi phối của Tỉnh để tạo sự tăng tốc thu ngân sách:

- Có giải pháp quản lý thuế theo chuyên đề đối với các công trình trọng điểm, các ngành kinh tế động lực như: Du lịch - dịch vụ, các khu trung tâm thương mại, chợ đầu mối và hệ thống chợ khu vực; các dự án lớn, đường cao tốc, khu du lịch hồ Tuyền lâm, Đan kia Suối vàng...; tập trung mạnh vào lĩnh vực khai thác tài nguyên, khoáng sản, SX VLXD (bauxít, cao lanh, diatomic,...); công nghiệp chế biến nông, lâm sản; công nghiệp điện...; tăng cường quản lý và chống thất thu ở các hoạt động KD theo thời vụ như: mua bán nông sản (cà phê, chè, rau hoa); quản lý chặt chẽ hoạt động kinh doanh của hộ kê khai, mở rộng diện thực hiện chế độ sổ sách kế toán hộ kinh doanh.

- Đối với những địa bàn trọng điểm về kinh tế như Đà Lạt, Bảo Lộc, Đức Trọng, Di Linh quản lý thuế phải gắn kết với các khu Công nghiệp Lộc Sơn, Phú Hội và quản lý thu thuế đối với hoạt động SXKD - DV CTN - NQD trên địa bàn, đặc biệt là các hoạt động XDCB, hoạt động của các nhà thầu v.v…

- Để phát triển lành mạnh thị trường bất động sản: các Sở Tài chính, Tài nguyên Môi trường, Kế hoạch Đầu tư, Xây dựng, Cục thuế tỉnh và các ngành liên quan phối hợp chặt chẽ với UBND các huyện, thị xã, thành phố khai thác, sử dụng có hiệu quả các loại bất động sản, đặc biệt là bất động sản nhà đất, phát huy tối đa nguồn lực từ đất đai, nhà và công trình trên đất để phát triển kinh tế xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thu hút các nguồn lực của xã hội, khuyến khích các thành phần kinh tế, tham gia đấu tư phát triển hàng hóa bất động sản.

- Sở Tài nguyên Môi trường chủ động phối hợp với các sở ngành liên quan, soát xét lại kế hoạch và lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 trình UBND tỉnh phê duyệt để triển khai thực hiện; Thông qua các quy hoạch, phân lô, xác định các loại đất, rà soát các quỹ đất hiện đang giao cho các đơn vị trên từng địa bàn để xây dựng phương án sử dụng đất có hiệu quả.

Đặc biệt là rà soát, khai thác quỹ đất để phục vụ đô thị hóa, hình thành các khu dân cư, đô thị mới...mở mang đô thị gắn theo các công trình trọng điểm của Tỉnh, đồng thời có giải pháp cụ thể để vừa khuyến khích việc đổi đất lấy cơ sở hạ tầng ở những vùng có điều kiện, vừa có cơ chế quản lý thu phù hợp đối với lĩnh vực này nhằm tạo nguồn các khoản thu từ đất cho NSNN.

- Sở Tài chính chủ động rà soát lại gía đất phù hợp với thực tế, trình duyệt và công khai giá đất hàng năm làm cơ sở cho việc xác định các nguồn thu hợp lý; tham mưu cho UBND tỉnh ban hành qui chế đấu gía; thông qua các hình thức đấu giá giao quyền sử dụng đất, các nhà đầu tư, cá nhân SXKD đầu tư xây dựng các công trình SXKD, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội để góp phần hình thành đồng bộ các loại thị trường, tạo nguồn thu NSNN.

3. Phát huy tính chủ động, sáng tạo, tự chủ của cơ sở:

a) Thực hiện phân cấp mạnh quản lý nguồn thu, phát huy tính sáng tạo, tự chủ, trách nhiệm của các cấp ngân sách:

Luật NSNN hiện hành là tiền đề và điều kiện để các địa phương, cơ sở phát huy tính chủ động trong điều hành NSNN, quản lý hết mọi nguồn thu phát sinh trên địa bàn, làm tăng thu cho NSNN; vì vậy Ngành Thuế phải chủ động phối hợp với ngành Tài chính, Kế hoạch - Đầu tư để rà soát, phân loại và phân cấp rành mạch quản lý nguồn thu, đối tượng quản lý theo hướng “cấp nào quản lý hiệu quả hơn thì phân cấp để quản lý”, cụ thể là:

- Cấp Tỉnh: Cục Thuế quản lý thu đối với các DNNN, DN có vốn ĐTNN và các DN/NQD có chi nhánh ngoài địa bàn huyện, thị xã, thành phố, và các DN thường xuyên phát sinh hoàn thuế.

- Cấp huyện, thị xã, thành phố: các Chi Cục thuế trực tiếp quản lý thu:

+ Tất cả các DN/NQD trên địa bàn ( trừ các DN/NQD có chi nhánh và doanh nghiệp phát sinh hoàn thuế tỉnh quản lý nói trên ) và hộ kinh doanh cá thể; các đơn vị XDCB vãng lai ngoài tỉnh không kê khai đăng ký thuế tại Cục thuế.

+ Các loại thuế khác gồm: Tiền cấp đất, thuế chuyển quyền, trước bạ, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, tiền thuê đất các DN trong Nước; các loại phí - lệ phí theo phân cấp

- Cấp xã, phường, thị trấn: Uỷ nhiệm thu theo nội dung “Đề án ủy nhiệm thu cho UBND các xã, phường, thị trấn quản lý thu một số khoản thuế phí” đã được UBND tỉnh, Bộ Tài chính phê duyệt.

Sở Tài chính tham mưu và thực hiện điều tiết cho các cấp ngân sách theo sắc thuế đúng theo quy định của Luật Ngân sách hiện hành.

b) Thực hiện cơ chế tự khai - tự nộp:

- Đối với doanh nghiệp, công ty: Từ năm 2007 triển khai thực hiện quản lý thu thuế theo cơ chế “doanh nghiệp tự kê khai và tự nộp thuế vào NSNN”, qua đó tạo thuận lợi nhất cho tổ chức, cá nhân hoạt động SXKD-DV, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của các tổ chức, cá nhân nộp thuế về kết quả sản xuất kinh doanh và tự giác thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước; đây là bước chuyển biến căn bản trong công tác quản lý thu thuế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Tự kê khai, tự nộp thuế là cơ chế quản lý thuế trong đó tổ chức, cá nhân nộp thuế tự giác tuân thủ thực hiện các nghĩa vụ thuế: Các tổ chức, cá nhân nộp thuế căn cứ các quy định tại các luật thuế và kết quả sản xuất kinh doanh trong kỳ để tự xác định nghĩa vụ thuế của mình, tự kê khai chính xác, nộp tờ khai thuế và tự nộp thuế đã kê khai vào ngân sách Nhà nước đúng thời hạn theo luật định.

Cơ quan thuế không can thiệp vào việc thực hiện nghĩa vụ thuế của tổ chức, cá nhân nộp thuế nếu tổ chức, cá nhân tự giác tuân thủ nghĩa vụ thuế. Cơ quan thuế có trách nhiệm tuyên truyền, hỗ trợ, hướng dẫn để tổ chức, cá nhân nộp thuế hiểu rõ và tự giác thực hiện nghĩa vụ thuế, đồng thời giám sát chặt chẽ việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của tổ chức, cá nhân nộp thuế và thông qua công tác kiểm tra, thanh tra để phát hiện, xử lý kịp thời, đúng đắn những hành vi gian lận, trốn thuế và áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với tổ chức, cá nhân không chấp hành nghĩa vụ thuế.

- Đối với hộ kinh doanh cá thể:

+ Đối với hộ kinh doanh lớn ( có môn bài bậc 1, bậc 2 và một phần bậc 3) đẩy mạnh triển khai thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn chứng từ và chuyển nộp thuế theo kê khai, đến năm 2010 tỷ trọng hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo kê khai chiếm trên 60% số hộ kinh doanh cá thể thuộc diện phải mở sổ sách kế tóan quản lý tại thời điểm (trừ hộ thu nhập thấp). Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, tư vấn hổ trợ và kiểm tra có tính quyết định đến chất lượng quản lý hộ nộp thuế theo kê khai và chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để chuyển dần thực hiện cơ chế “ tự khai - tự nộp ”.

+ Đối với hộ nộp thuế ổn định: Thực hiện kê khai cả năm và nộp thuế hàng quý theo nội dung phê duyệt của Thủ Tướng Chính Phủ.

Đồng thời thực hiện công khai doanh thu, mức thuế đối với hộ kinh doanh khoán ổn định thuế đúng qui trình quản lý.

+ Nâng dần tỷ lệ doanh nghiệp, hộ kinh doanh trực tiếp nộp thuế vào KBNN, trước mắt trong năm 2007 có 100% doanh nghiệp và trên 60% hộ cá thể kinh doanh tại địa bàn Thị trấn nộp thuế trực tiếp vào KBNN; phấn đấu đến năm 2010 có từ 85% trở lên hộ cá thể kinh doanh tại phường, thị trấn nộp thuế trực tiếp vào KBNN.

4. Phát huy có hiệu quả tính cưỡng chế - chế tài của các luật thuế; tăng cường trật tự kỷ cương trong và ngoài ngành thuế:

- Đối với ngành thuế: Từng đơn vị, CBCC thuế phải thực hiện đầy đủ các chính sách thuế hiện hành, các quy trình quản lý, quy chế của ngành; trường hợp phát hiện các hành vi vi phạm (nếu có) phải xử lý nghiêm minh.

- Đối với tổ chức, cá nhân nộp thuế: Phải tự giác chấp hành các quy định về kê khai thuế, nộp thuế đầy đủ số thuế thực tế phát sinh, kịp thời nộp vào NSNN; các trường hợp kê khai có dấu hiệu gian lận về thuế, gian lận thương mại, chậm nộp thuế theo quy định, nợ thuế dây dưa kéo dài, không chấp hành các lệnh thu nộp thuế, lệnh phạt về thuế.... thì phải bị xử lý các biện pháp chế tài và cưỡng chế về thuế theo quy định của pháp luật.

5. Tiếp tục củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ:

a) Củng cố tổ chức bộ máy: Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực quản lý và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ công chức thuế theo mô hình chức năng tại Văn phòng Cục và các Chi Cục theo đúng tiến độ triển khai của Tổng Cục thuế; bảo đảm triển khai thực hiện có hiệu quả Luật Quản lý thuế khi Nhà nước ban hành, đảm bảo bộ máy sau khi kiện toàn lại phải hoạt động tốt hơn và có hiệu quả hơn. Thực hiện tốt việc đề bạt bổ nhiệm, luân phiên, luân chuyển cán bộ trong đơn vị, ngành gắn với xây dựng lực lượng và đào tạo cán bộ toàn Ngành;

- Tại Văn phòng Cục Thuế: Phải chuẩn bị mọi điều kiện và sắp xếp một bước về tổ chức bộ máy và cán bộ cùng với đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn, trong quý IV năm 2006 cơ bản hình thành tổ chức bộ máy theo mô hình chức năng trong quản lý thuế với 4 bộ phận chính: Tuyên truyền - hỗ trợ, Xử lý tờ khai và kế toán thuế, thanh tra kiểm tra, đôn đốc thu nợ thuế; sáp nhập 2 Phòng quản lý hiện nay thành Phòng thu nợ thuế và cưỡng chế thuế, giải thể Tổ quản lý thuộc Phòng QLDN 2 tại Bảo Lộc; từ năm 2007 chính thức đi vào thực hiện quản lý thuế theo mô hình chức năng.

- Tại các Chi Cục Thuế: Tập trung rà soát để chuyển dần sang cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý theo chức năng từ năm 2007–2008; đồng thời quản lý tốt hộ khoán ổn định thuế thực hiện kê khai theo năm và nộp thuế theo quý khi được Chính phủ phê duyệt.

Tăng cường cán bộ có năng lực vào các khâu: thanh kiểm tra; tuyên truyền, hỗ trợ và cung cấp dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế; xử lý tờ khai, kế toán thuế; tin học v.v...

b) Nâng cao năng lực quản lý, chỉ đạo điều hành:

Nâng cao năng lực điều hành quản lý là yêu cầu tất yếu của công tác thuế ở bất cứ thời kỳ nào, đặc biệt trước yêu cầu hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế như hiện nay, tăng cường quản lý thuế lại càng quan trọng hơn bao giờ hết bởi hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế là sự gia tăng những mối quan hệ kinh tế có sự phụ thuộc lẫn nhau nhằm sử dụng tốt nhất về vốn, vật tư kỹ thuật cùng kinh nghiệm trong quá trình tiến hành sản xuất kinh doanh và cả trong công tác quản lý kinh tế, tài chính, do vậy trong việc đổi mới quản lý nguồn thu, loại thu cần phân loại các nguồn thu chủ yếu để có biện pháp tăng cường quản lý thuế giữa ngành và địa bàn, lãnh thổ gắn kết đồng bộ giữa cơ quan thuế và UBND địa phương một cách thường xuyên về quản lý thu thuế đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn và của những doanh nghiệp trọng điểm, những hộ lớn. Đồng thời qua công tác quản lý thu phải chú trọng tổ chức hệ thống thông tin, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng chất lượng quản lý thuế như thị trường, giá cả, tỷ lệ GTGT, thu nhập chịu thuế… của các ngành hàng chủ yếu như cà phê, trà, dịch vụ, du lịch… để điều chỉnh khai thác nguồn thu kịp thời, hợp lý.

c) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng chuyên môn, phẩm chất đạo đức cán bộ

- Tiếp tục hoàn thiện việc quy hoạch cán bộ, có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại cán bộ nghiệp vụ thuế, tin học đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ: phấn đấu đến năm 2010 cơ bản đạt trên 80% có trình độ cao đẳng, đại học về chuyên môn; có 80% – 90% cán bộ sử dụng máy vi tính trong công tác quản lý thuế; CBCC được bố trí ở vị trí thường xuyên tiếp xúc với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải hiểu biết thông thạo ít nhất một ngoại ngữ để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Ngoài ra có nhiều hình thức phối hợp để tập trung đào tạo về lý luận chính trị, phấn đấu đến năm 2010 có từ 50% - 70% đảng viên là lãnh đạo các cấp có trình độ cử nhân và cao cấp chính trị.

- Chú trọng việc đào tạo cán bộ ở cơ sở, tổ, đội thuế nhằm nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn đáp ứng tốt yêu cầu của ngành theo phương châm cán bộ thuế giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, làm tốt công tác dân vận về thuế.

Bên cạnh đó phải thường xuyên tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp của cán bộ thuế, thực hiện nghiêm 10 điều kỷ luật của ngành. Có kế hoạch bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước, kiến thức quốc phòng, thường xuyên cập nhật chính sách thuế, nghiệp vụ quản lý thuế, ứng dụng tin học, ngoại ngữ, và phong cách ứng xử của người cán bộ thuế; Qua đó, đánh giá cán bộ chủ yếu căn cứ vào kết qủa công tác, vào mức độ hoàn thành cả về khối lượng, chất lượng công việc được giao và kịp thời phát hiện xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.

6. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp trong quản lý thu ngân sách:

Hệ thống chính sách thuế hiện nay còn chứa đựng nhiều yếu tố xã hội, bởi vậy để người dân và tổ chức, cá nhân nộp thuế hiểu và thực hiện thì công tác tuyên truyền thuế là một công tác không thể thiếu trong quá trình thi hành luật .

Hoạt động tuyên truyền và hỗ trợ tổ chức, cá nhân nộp thuế phải được coi là một trong những điều kiện cần thiết và chú trọng phát triển với quy mô ngày càng mở rộng nhằm hỗ trợ đắc lực cho cơ chế tự kê khai, tự tính và tự nộp thuế, một tiền đề tất yếu cho sự thành công của các giải pháp hoàn thiện cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế, vì vậy cần phải tăng cường phối hợp, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị cùng đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật để toàn dân hiểu rõ và thực hiện.

Về lực lượng CB làm công tác tuyên truyền, hỗ trợ phải đảm bảo 20% tổng số CBCC của ngành, đồng thời phải thực sự đổi mới theo các nội dung:

- Đa dạng hoá, mở rộng các hình thức tuyên truyền sao cho phù hợp với mọi đối tượng cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hệ thống giáo dục, cơ quan quản lý thu và dưới nhiều hình thức phong phú để tuyên truyền, giáo dục các tổ chức, cá nhân nộp thuế hiểu biết đầy đủ các chính sách thuế, trách nhiệm pháp luật để nâng cao ý thức, tự giác chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp thuế vào NSNN theo quy định của pháp luật; hướng dẫn kịp thời, đầy đủ các thủ tục về kê khai, tính thuế, lập hồ sơ miễn giảm thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế để các tổ chức, cá nhân nộp thuế tự mình thực hiện tốt các nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước.

- Phối hợp chặt chẽ với chính quyền các cấp, các ban, ngành, đoàn thể; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở xã, phường, thị trấn; MTTQ VN Tỉnh, Ban Tuyên giáo, hệ thống giáo dục... để tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn nâng cao nhận thức về thuế cho tổ chức, cá nhân nộp thuế và nhân dân hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi để thực hiện tốt pháp luật về thuế, tạo được niềm tin trong quần chúng nhân dân và cộng đồng các doanh nghiệp đồng thuận theo pháp luật; tạo môi trường quản lý và thu thuế lành mạnh; cùng xử lý kịp thời những vướng mắc trong quá trình quản lý thu, đảm bảo tính đồng bộ trong quản lý kinh tế và ngân sách của chính quyền các cấp; đồng thời đẩy nhanh quá trình xã hội hóa công tác thuế, đặc biệt là công khai minh bạch thủ tục, qui trình quản lý thuế để nhân dân tham gia giám sát, đóng góp cho ngành thuế về công tác quản lý thu theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; gắn công tác vận động thu - nộp thuế với phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng gia đình văn hóa, thôn, khu phố văn hoá.

Tôn vinh kịp thời các tổ chức, cá nhân thực hiện tốt nghĩa vụ thuế, đồng thời lên án mạnh mẽ và kiên quyết chống các hành vi gian lận thuế.

7. Đẩy mạnh phong trào thi đua hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế, thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các khoản thu vào ngân sách:

- Thường xuyên phát động thi đua thu nộp ngân sách bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú, kịp thời tôn vinh, tuyên dương, khen thưởng các đơn vị, tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt nghĩa vụ thuế;

- Xây dựng và nhân rộng điển hình tiên tiến, dấy lên mạnh mẽ và thường xuyên phong trào “thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua”; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đơn vị, cá nhân phát huy sáng kiến, cải tiến phương pháp công tác; thi đua thực hành tiết kiệm, bảo vệ tài sản, kiên quyết đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí .

8. Cơ chế thưởng về kết quả quản lý thu ngân sách:

- Các cấp ngân sách (huyện, thị xã, thành phố, xã, phường, thị trấn) quản lý và khai thác tốt nguồn thu, thu vượt dự toán được giao (phần nộp ngân sách cấp trên) thì phần vượt đó sẽ được xem xét để bổ sung cho ngân sách cấp đó để tăng nguồn vốn xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội.

- Hàng năm, UBND tỉnh áp dụng cơ chế thưởng vượt thu là 5% số thu vượt dự toán về thuế phí để động viên, khuyến khích các đơn vị, tổ chức, cá nhân thực hiện tốt công tác thuế, trong đó:

+ 70% giao cho Cục Thuế tỉnh phối hợp cùng với Sở Tài chính cân đối, trích thưởng cho các cấp ủy đảng, chính quyền, sở, ban, ngành, đoàn thể các cấp từ tỉnh đến cơ sở xã, phường, thị trấn.

+ 30% giao Cục trưởng Cục Thuế điều hoà, trích thưởng cho các đơn vị trực thuộc và CBCC Ngành thuế Lâm Đồng.

IV. Tổ chức thực hiện:

1. Quán triệt công tác thu ngân sách là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của các cấp chính quyền, đoàn thể, các sở, ban, ngành từ tỉnh đến cơ sở; do đó các ngành, các cấp phải triển khai cụ thể quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá, tăng tốc thu NSNN trong Đề án này để tổ chức thực hiện có hiệu quả, đạt được mục tiêu thu chi ngân sách mà Đại hội Tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII đã đề ra.

2. Đối với Ngành thuế:

a) Cục Thuế: Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đôn đốc các đơn vị trong ngành thực hiện đúng lộ trình, giải pháp của Đề án; phối hợp với các sở, ban ngành, UBND huyện, thị xã, thành phố và Đoàn thể các cấp để triển khai thực hiện thắng lợi Đề án.

b) Các Chi Cục thuế: Tổ chức nghiên cứu, quán triệt nội dung Đề án; tranh thủ ý kiến của cấp Uỷ, chính quyền và phối hợp với các phòng, ban liên quan tại địa phương để xây dựng kế hoạch, lộ trình quản lý thu ngân sách của đơn vị, địa phương giai đoạn 2006 – 2010 bảo đảm mục tiêu chung; hàng năm xây dựng chương trình hành động thực hiện nhiệm vụ quản lý thu ngân sách trên địa bàn, làm cơ sở cho việc thực hiện thắng lợi mục tiêu, lộ trình của Đề án.

3. Các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh:

- Xây dựng chương trình hành động của sở, ngành, đơn vị mình giai đoạn 2006 - 2010, trong đó cần xác định trách nhiệm của sở, ngành, đơn vị mình đối với nhiệm vụ đột phá, tăng tốc thu ngân sách trên địa bàn; đồng thời phối hợp với ngành thuế triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án nhằm huy động mọi nguồn thu phát sinh trên địa bàn vào NSNN kịp thời.

- Phối hợp với ngành thuế đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về thuế, vận động các tổ chức, cá nhân và nhân dân thực hiện tốt nghĩa vụ thuế; Cung cấp kịp thời các thông tin về cấp giấy phép đầu tư, cấp đăng ký kinh doanh, thuê đất…để quản lý chặt chẽ tổ chức, cá nhân nộp thuế, chống thất thu ngân sách.

- Ngành Tài chính, Kho bạc phối hợp với Ngành thuế thu thuế xây dựng cơ bản đối với các công trình do ngân sách cấp vốn; Phát triển mạng thông tin, trao đổi số liệu, đáp ứng tốt cho chỉ đạo điều hành, đồng thời mở rộng diện nộp thuế qua kho bạc, góp phần thu ngân sách kịp thời, chống tồn đọng thuế.

4. UBND, các ban, ngành, đoàn thể cấp huyện, thị xã, thành phố: Có trách nhiệm thường xuyên phối hợp với Cục Thuế để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện công tác thu ngân sách trên địa bàn, định kỳ kiểm điểm đánh giá những việc đã làm được, chưa làm được, tìm nguyên nhân và biện pháp khắc phục để quyết tâm thực hiện thắng lợi Đề án ở mỗi địa phương ./.

 

HIỆU LỰC VĂN BẢN

Quyết định 40/2006/QĐ-UBND về Đề án "Mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đột phá, tăng tốc thu ngân sách Nhà nước tỉnh Lâm Đồng đến năm 2010”

  • Số hiệu: 40/2006/QĐ-UBND
  • Loại văn bản: Quyết định
  • Ngày ban hành: 06/07/2006
  • Nơi ban hành: Tỉnh Lâm Đồng
  • Người ký: Huỳnh Đức Hòa
  • Ngày công báo: Đang cập nhật
  • Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
  • Ngày hiệu lực: 16/07/2006
  • Tình trạng hiệu lực: Chưa xác định
Tải văn bản