Quyết định số 18/2005/QĐ-TTg được ban hành bởi Thủ tướng Chính phủ nhằm phê duyệt Đề án "Nghiên cứu chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế đến năm 2010". Đây là một chính sách chiến lược quan trọng nhằm huy động và tập trung tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia, từng bước hình thành và phát triển ngành công nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế trong nước, hướng tới tự chủ nguồn cung thiết bị y tế thiết yếu và công nghệ cao phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Phạm vi áp dụng của Đề án bao gồm toàn bộ hoạt động nghiên cứu, thiết kế, chế tạo, thử nghiệm lâm sàng, sản xuất, kiểm chuẩn và dịch vụ kỹ thuật trang thiết bị y tế trên phạm vi cả nước. Đối tượng áp dụng là các cơ quan quản lý nhà nước, các viện nghiên cứu, trường đại học, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trang thiết bị y tế thuộc mọi thành phần kinh tế, cùng các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong hệ thống y tế Việt Nam.
Mục tiêu chiến lược của Đề án đến năm 2010
- Mục tiêu chung: Tập trung tối đa tiềm lực khoa học và công nghệ trong cả nước để xây dựng ngành công nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế Việt Nam. Đảm bảo đến năm 2010 có khả năng sản xuất và cung ứng các trang thiết bị y tế thiết yếu, thông dụng và một số thiết bị công nghệ cao cho các tuyến y tế, hoàn thành các mục tiêu của Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2010.
- Mục tiêu cụ thể về tỷ lệ đáp ứng: Phấn đấu đạt tỷ lệ tự sản xuất đáp ứng 40% nhu cầu sử dụng trang thiết bị y tế thiết yếu, thông dụng vào năm 2005 và nâng lên mức 60% vào năm 2010 cho toàn ngành y tế.
- Đầu tư công nghệ và xuất khẩu: Tập trung đầu tư chiều sâu cho các dây chuyền sản xuất hiện đại nhằm nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, xây dựng thương hiệu mạnh để đáp ứng nhu cầu nội địa và từng bước xuất khẩu ra thị trường khu vực và thế giới.
- Nghiên cứu thiết bị công nghệ cao: Hình thành các cơ sở khoa học - công nghệ đủ năng lực nghiên cứu, chế tạo các thiết bị y tế kỹ thuật cao như máy X-quang các loại, máy siêu âm chẩn đoán, máy điện tim, dao mổ cao tần, thiết bị laser y tế, máy phân tích sinh hóa và huyết học.
- Phát triển hệ thống kiểm chuẩn và dịch vụ kỹ thuật: Hoàn thiện hệ thống kiểm chuẩn trang thiết bị y tế quốc gia để đến năm 2010 kiểm chuẩn được toàn bộ danh mục thiết bị bắt buộc theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ. Đồng thời, xây dựng mạng lưới trung tâm bảo dưỡng, sửa chữa tại ba khu vực trọng điểm là Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó nhân rộng ra các tỉnh, thành phố khác.
Nguyên tắc và tiêu chí lựa chọn trang thiết bị y tế để nghiên cứu, sản xuất
- Nguyên tắc định hướng: Đối với sản phẩm trong nước đã sản xuất ổn định và có chất lượng tốt, cần tiếp tục hoàn thiện công nghệ để đáp ứng đủ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Đối với sản phẩm có khả năng chế tạo, Bộ Y tế phối hợp với các Bộ, ngành đẩy nhanh tiến độ nghiên cứu thử nghiệm và đề xuất chính sách hỗ trợ. Đối với thiết bị chưa thể sản xuất trong 10 - 15 năm tới, thực hiện nhập khẩu đúng chủng loại, phân tuyến kỹ thuật, đồng thời chủ động liên doanh, liên kết để chuyển giao công nghệ.
- Tiêu chí lựa chọn sản phẩm ưu tiên: Ưu tiên thiết bị thiết yếu phục vụ tuyến y tế cơ sở và chăm sóc sức khỏe ban đầu; các thiết bị đã có kinh nghiệm sử dụng và có tiềm năng sản xuất trong nước; các sản phẩm có cấu tạo không quá phức tạp nhưng có kích thước, trọng lượng lớn nhằm giảm chi phí vận chuyển và nhập khẩu; các thiết bị đã qua thử nghiệm lâm sàng thành công tại các bệnh viện lớn và đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO.
Lộ trình triển khai thực hiện qua hai giai đoạn
- Giai đoạn I (2005 - 2006): Tập trung sản xuất quy mô lớn các mặt hàng truyền thống, thông dụng đạt chất lượng cao như thiết bị nội thất bệnh viện, thiết bị tiệt trùng dung tích nhỏ, vật tư tiêu hao và dụng cụ y tế học đường. Đẩy mạnh nghiên cứu chế thử các thiết bị chẩn đoán hình ảnh (X-quang, siêu âm, điện tim), thiết bị phòng mổ và gây mê hồi sức (máy thở, máy gây mê, dao mổ), thiết bị laser, thiết bị xét nghiệm và các vật liệu cấy ghép y sinh (thép không gỉ, composite, vật liệu nha khoa).
- Giai đoạn II (2007 - 2010): Mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng các sản phẩm từ giai đoạn I. Hoàn thiện quy trình công nghệ để đưa vào sản xuất hàng loạt các thiết bị y tế công nghệ cao đã nghiên cứu thành công. Đảm bảo cung ứng 60% nhu cầu thiết bị thông dụng toàn ngành, thúc đẩy liên doanh liên kết sản xuất thiết bị công nghệ cao để hạn chế nhập khẩu và ổn định thị trường xuất khẩu.
Các dự án thành phần trọng điểm của Đề án
Đề án được cụ thể hóa thông qua việc triển khai 07 dự án thành phần cốt lõi bao gồm:
- Dự án nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị nội thất bệnh viện và vật tư y tế thông dụng.
- Dự án nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị phân tích sinh hóa, huyết học, thiết bị phòng thí nghiệm và vật tư y tế chuyên khoa.
- Dự án nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị laser y tế và thiết bị điều trị công nghệ cao.
- Dự án nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị vật lý trị liệu và phục hồi chức năng.
- Dự án nghiên cứu chế tạo, sản xuất thiết bị bệnh phòng, thiết bị nhiệt và thiết bị tiệt trùng.
- Dự án nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị chẩn đoán hình ảnh phục vụ tuyến huyện và cơ sở.
- Dự án nghiên cứu chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế phục vụ công nghiệp dược.
Hệ thống giải pháp thực hiện toàn diện
- Giải pháp về nguồn lực và cơ chế chính sách: Tăng cường đầu tư ngân sách và cơ sở vật chất cho nghiên cứu, kiểm chuẩn, bảo dưỡng và đào tạo nhân lực. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về trang thiết bị y tế; ban hành các chính sách ưu đãi, khuyến khích các nhà khoa học, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư nghiên cứu, sản xuất.
- Giải pháp về nghiên cứu và sản xuất thử nghiệm: Xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học cụ thể theo từng giai đoạn; đầu tư nâng cấp các trung tâm nghiên cứu chuyên sâu; tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở nghiên cứu, nhà đầu tư, nhà sản xuất với các bệnh viện thực hành lâm sàng; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo và chuyển giao công nghệ.
- Giải pháp thúc đẩy sản xuất hàng loạt: Hỗ trợ doanh nghiệp nâng cấp, đổi mới công nghệ và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO, tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) hoặc tiêu chuẩn ngành (TCN). Xây dựng và bảo vệ thương hiệu sản phẩm; khuyến khích các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đầu tư sản xuất trang thiết bị y tế tại Việt Nam.
Nguồn kinh phí bảo đảm thực hiện Đề án
Kinh phí triển khai Đề án được huy động từ nhiều nguồn đa dạng, bao gồm:
- Nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các chương trình, dự án, đề tài khoa học công nghệ được phê duyệt hàng năm.
- Vốn từ các chương trình nghiên cứu phát triển và đề tài khoa học công nghệ các cấp.
- Vốn hỗ trợ sản xuất và nguồn vốn tín dụng ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ phát triển.
- Vốn tự có của các doanh nghiệp và các nguồn vốn huy động hợp pháp khác từ xã hội.
- Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tài trợ quốc tế.
Phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện
- Bộ Y tế: Chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành xác định danh mục sản phẩm cần sản xuất; tạo điều kiện thử nghiệm lâm sàng tại các bệnh viện lớn; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và giám sát việc thực hiện Đề án; định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ và tổ chức sơ kết vào năm 2007, tổng kết vào năm 2010.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính: Chịu trách nhiệm cân đối, bố trí và hướng dẫn sử dụng nguồn ngân sách nhà nước cho Đề án; nghiên cứu trình Chính phủ ban hành các cơ chế, chính sách tài chính ưu đãi đối với sản phẩm trang thiết bị y tế sản xuất trong nước.
- Bộ Khoa học và Công nghệ: Chịu trách nhiệm quản lý, xét duyệt, đánh giá và nghiệm thu các đề tài khoa học - công nghệ, dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước liên quan đến trang thiết bị y tế.
- Bộ Công nghiệp: Có trách nhiệm chỉ đạo, tập hợp các cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp sản xuất thuộc ngành công nghiệp phối hợp với Bộ Y tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp trong chế tạo và sản xuất.
Hiệu lực thi hành
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 18/2005/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 21 tháng 1 năm 2005 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 130/2002/QĐ-TTg ngày 04 tháng 10 năm 2002 về việc phê duyệt Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2010;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Mục tiêu chung
Tập trung tiềm lực khoa học công nghệ trong cả nước nhằm hình thành và phát triển ngành công nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế của Việt Nam với mục tiêu đến năm 2010 có thể sản xuất, cung ứng các trang thiết bị y tế thiết yếu, thông dụng và một số trang thiết bị y tế công nghệ cao cho các tuyến y tế; bảo đảm thực hiện được mục tiêu của Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2010.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Bảo đảm đến năm 2005 đáp ứng 40% và đến năm 2010 đáp ứng 60% nhu cầu sử dụng trang thiết bị y tế thiết yếu, thông dụng trong toàn ngành y tế.
b) Tập trung đầu tư chiều sâu các dây chuyền sản xuất trang thiết bị y tế nhằm nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, giới thiệu thương hiệu để đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước tham gia hoạt động xuất khẩu trong khu vực và thế giới.
c) Hình thành các cơ sở khoa học - công nghệ trong nước có đủ điều kiện và khả năng nghiên cứu, chế tạo những thiết bị y tế công nghệ cao bao gồm X-quang các loại, siêu âm chẩn đoán, điện tim, dao mổ cao tần, laser y tế, thiết bị phân tích sinh hóa, huyết học...
d) Mở rộng và hoàn chỉnh hệ thống kiểm chuẩn trang thiết bị y tế để đến năm 2010 có đủ khả năng kiểm chuẩn được các loại trang thiết bị y tế thuộc diện định kỳ kiểm chuẩn theo quy định của Bộ Khoa học và Công nghệ.
đ) Phát triển nguồn nhân lực chuyên ngành trang thiết bị y tế; xây dựng và củng cố hệ thống các trung tâm bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị y tế trên toàn quốc, trước mắt là các cơ sở đại diện cho ba khu vực Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, tiến tới mở rộng ra các tỉnh, thành phố nhằm khai thác tiềm năng, phát huy nội lực bảo đảm thực hiện thành công những nội dung cơ bản của Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2010.
e) Sử dụng có hiệu quả những trang thiết bị y tế đã được trang bị tại các cơ sở trong toàn ngành y tế.
II. NỘI DUNG, LỘ TRÌNH THỰC HIỆN VÀ CÁC DỰ ÁN THÀNH PHẦN
1. Nguyên tắc và tiêu chí nghiên cứu chế tạo, sản xuất trang thiết bị y tế
Để thực hiện thành công Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2010, việc đầu tư nghiên cứu chế tạo, sản xuất trang thiết bị y tế phải bảo đảm tính khoa học, kinh tế, hiệu quả tuân theo các nguyên tắc và tiêu chí sau:
a) Nguyên tắc:
- Những sản phẩm trong nước đã sản xuất được, có chất lượng tốt, được người sử dụng chấp nhận thì cần được tiếp tục nâng cao chất lượng, hoàn thiện và cải tiến mẫu mã, phấn đấu cung ứng đủ nhu cầu trong nước, giảm dần nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu.
- Những trang thiết bị y tế mà Việt Nam khẳng định có thể chế tạo sản xuất được, Bộ Y tế cần phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành liên quan đẩy nhanh tốc độ nghiên cứu, chế thử, sớm đưa vào sản xuất và đề xuất kịp thời các chính sách hỗ trợ cần thiết.
- Những sản phẩm trang thiết bị y tế mà Việt
b) Các tiêu chí lựa chọn chủng loại trang thiết bị y tế tập trung nghiên cứu chế tạo và sản xuất:
- Phải là những trang thiết bị y tế thiết yếu, phục vụ công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại tuyến y tế cơ sở, bảo đảm các yêu cầu thông dụng, có nhu cầu ứng dụng rộng rãi tại các bệnh viện, cơ sở y tế và đáp ứng đúng mục tiêu của Chính sách quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 - 2010.
- Phải là những trang thiết bị y tế nước ta đã có kinh nghiệm sử dụng, có tiềm năng trong chế tạo, sản xuất; được những cơ sở trong nước sản xuất; được Bộ Y tế cấp giấy phép lưu hành nhằm bảo đảm tính cạnh tranh về chất lượng, giá cả so với hàng nhập khẩu cùng loại.
- Những trang thiết bị y tế ưu tiên sản xuất giai đoạn 2005 - 2006 là các sản phẩm có yêu cầu bảo trì kỹ thuật và sử dụng đơn giản, dễ được người sử dụng chấp nhận, bảo đảm hiệu quả trong khám, chữa bệnh, tạo uy tín cho trang thiết bị y tế chế tạo sản xuất trong nước.
- Những trang thiết bị y tế có thiết kế, cấu tạo kỹ thuật không quá phức tạp, có kích thước, trọng lượng lớn và chi phí về nhập khẩu, vận chuyển quá cao cần được tập trung nghiên cứu chế tạo, nhằm chủ động đáp ứng yêu cầu trong nước, hạn chế nhập ngoại.
- Những trang thiết bị y tế đã được nghiên cứu, chế tạo, đã qua thử nghiệm lâm sàng tại các bệnh viện lớn, được người sử dụng chấp nhận sẽ được chuyển giao công nghệ cho các cơ sở sản xuất có đủ khả năng tiếp nhận công nghệ, đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO đưa vào sản xuất từ nay đến năm 2010.
- Tập trung đầu tư nghiên cứu, lựa chọn trang thiết bị y tế chuyên dùng công nghệ cao phục vụ chẩn đoán và điều trị.
a) Giai đoạn I: 2005 - 2006 :
- Tập trung sản xuất số lượng lớn với chất lượng cao nhằm bảo đảm đáp ứng 40% nhu cầu trong toàn ngành, tiến tới xuất khẩu các mặt hàng trang thiết bị y tế thông dụng, truyền thống như: thiết bị nội thất bệnh viện, thiết bị tiệt trùng dung tích nhỏ, vật tư thông dụng và dụng cụ y tế phục vụ học đường.
- Tập trung nghiên cứu chế tạo, hoàn thiện công nghệ, nâng cao chất lượng về độ chính xác, độ bền và độ an toàn cao đối với các thiết bị điện tử y tế để đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước, thay thế hàng nhập khẩu và tiến tới xuất khẩu.
- Đầu tư nghiên cứu chế thử các thiết bị y tế có công nghệ cao, trước mắt là các chủng loại:
+ Thiết bị chẩn đoán phục vụ tuyến y tế cơ sở (máy X-quang, siêu âm, điện tim, doppler tim thai ...).
+ Thiết bị phòng mổ, gây mê hồi sức (máy thở, máy gây mê, máy tạo ô xy cá nhân, thiết bị theo dõi bệnh nhân, dao mổ các loại, bàn mổ ...).
+ Thiết bị laser y tế, thiết bị điều trị công nghệ cao và các thiết bị vật lý trị liệu, phục hồi chức năng.
+ Thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị phân tích xét nghiệm phục vụ tuyến y tế cơ sở (kính hiển vi sinh học, máy xét nghiệm sinh hoá, huyết học, ... và đặc biệt là các vật tư, hoá chất xét nghiệm đi kèm).
+ Vật liệu cấy ghép vào cơ thể bằng thép không gỉ, vật liệu composite ..., vật liệu dùng cho chuyên khoa Răng - Hàm - Mặt.
+ Thiết bị tiệt trùng dung tích lớn, thiết bị xử lý nước thải, rác thải y tế.
b) Giai đoạn II : 2007 - 2010.
- Tiếp tục mở rộng sản xuất và nâng cao chất lượng các chủng loại trang thiết bị y tế đã sản xuất được trong giai đoạn I.
- Tập trung hoàn thiện quy trình công nghệ, đưa vào sản xuất các thiết bị y tế có hàm lượng công nghệ cao đã được nghiên cứu chế tạo thành công trong giai đoạn 2005 - 2006.
- Bảo đảm đáp ứng 60% nhu cầu trang thiết bị y tế thông dụng trong toàn ngành. Đẩy mạnh liên doanh, liên kết sản xuất trang thiết bị y tế công nghệ cao, hạn chế dần nhập khẩu.
- Mở rộng và bảo đảm sự ổn định thị trường xuất khẩu trang thiết bị y tế.
Đề án được thực hiện theo các dự án thành phần. Các đơn vị tham gia nghiên cứu chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế chịu trách nhiệm xây dựng và trình duyệt các dự án theo đúng quy định hiện hành. Tập trung đầu tư thực hiện các dự án thành phần sau:
a) Nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị nội thất bệnh viện và vật tư y tế thông dụng.
b) Nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị phân tích sinh hoá, huyết học, thiết bị phòng thí nghiệm và vật tư y tế chuyên khoa.
c) Nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị laser y tế và thiết bị điều trị công nghệ cao.
d) Nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị vật lý trị liệu, phục hồi chức năng.
đ) Nghiên cứu chế tạo, sản xuất thiết bị bệnh phòng, thiết bị nhiệt và thiết bị tiệt trùng.
e) Nghiên cứu chế tạo và sản xuất thiết bị chẩn đoán hình ảnh (X-quang cho tuyến huyện, siêu âm trắng đen, doppler tim thai...).
f) Nghiên cứu chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế và công nghiệp dược.
1. Nhóm các giải pháp về nguồn lực và chính sách
a) Tăng cường đầu tư kinh phí và cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện, dụng cụ, tài liệu nghiên cứu cho các hoạt động: nghiên cứu chế tạo, sản xuất trang thiết bị y tế, kiểm chuẩn, sửa chữa bảo dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực để triển khai thực hiện đề án; quản lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn kinh phí huy động được phục vụ cho chương trình nghiên cứu, sản xuất trang thiết bị y tế.
b) Củng cố, cải tiến hệ thống đào tạo nhân lực chuyên ngành kỹ thuật thiết bị y tế. Nâng cao chất lượng, mở rộng quy mô và loại hình đào tạo đội ngũ cán bộ nghiên cứu, công nhân kỹ thuật về trang thiết bị y tế.
c) Tăng cường và đa dạng hoá công tác dịch vụ kỹ thuật thiết bị y tế. Củng cố và xây dựng cơ chế hoạt động của các Trung tâm dịch vụ kỹ thuật trang thiết bị y tế trong cả nước. Đưa công tác kiểm chuẩn trang thiết bị y tế trở thành hoạt động bắt buộc, thường quy.
d) Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực trang thiết bị y tế, đặc biệt chú trọng việc xây dựng các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với các nhà khoa học, các cơ sở khoa học công nghệ, các doanh nghiệp, nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu chế tạo, sản xuất, khai thác và sử dụng trang thiết bị y tế.
2. Nhóm các giải pháp về nghiên cứu, sản xuất thử trang thiết bị y tế ở Việt
a) Xây dựng kế hoạch nghiên cứu, sản xuất thử một số loại trang thiết bị y tế giai đoạn 2005 - 2010.
b) Tập trung đầu tư về cơ sở vật chất, nhân lực cho các trung tâm nghiên cứu, chế tạo về trang thiết bị y tế. Nghiên cứu quy trình công nghệ, mở rộng các mặt hàng trang thiết bị y tế đã chế tạo được, đồng thời, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, hình thức cho phù hợp với đặc điểm con người và điều kiện kinh tế - xã hội Việt
c) Tăng cường sự hợp tác giữa cơ quan nghiên cứu, các nhà đầu tư, các cơ sở sản xuất với các chuyên gia kỹ thuật trang thiết bị y tế, các cơ sở khám, chữa bệnh trong nước đối với quá trình nghiên cứu chế tạo.
d) Tăng cường hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực đào tạo cán bộ, nghiên cứu, sản xuất thử.
3. Nhóm các giải pháp để đưa vào sản xuất hàng loạt trang thiết bị y tế trong nước
a) Đầu tư nâng cấp, đổi mới dây chuyền sản xuất trang thiết bị y tế. áp dụng tiêu chuẩn quốc tế ISO hoặc tương đương về quản lý sản xuất trang thiết bị y tế. Bảo đảm đạt tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam (TCVN) hoặc tiêu chuẩn ngành (TCN) cho từng sản phẩm trang thiết bị y tế được chế tạo, sản xuất.
b) Tăng cường việc chuyển giao kỹ thuật, chuyển giao công nghệ trong chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế. Xây dựng thương hiệu sản phẩm, bảo đảm uy tín trong nước và tiến tới xuất khẩu.
c) Tăng cường liên doanh, hợp tác với các hãng sản xuất trang thiết bị y tế có uy tín trong khu vực và trên thế giới về sản xuất trang thiết bị y tế.
d) Khuyến khích các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực sản xuất trang thiết bị y tế.
Các nguồn kinh phí thực hiện đề án gồm:
1. Kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho các Dự án, đề tài được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định và theo kế hoạch hàng năm.
2. Vốn đề tài khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển,
3. Vốn hỗ trợ sản xuất, vốn vay từ Quỹ hỗ trợ phát triển,
4. Vốn của doanh nghiệp và huy động các nguồn vốn hợp pháp khác,
5. Nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính chịu trách nhiệm bố trí ngân sách thực hiện; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện ngân sách của đề án theo quy định của pháp luật; nghiên cứu trình Chính phủ ban hành chính sách hỗ trợ phát triển các sản phẩm trang thiết bị y tế được nghiên cứu, chế tạo và sản xuất trong nước.
- Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm xét duyệt, đánh giá, nghiệm thu các đề tài khoa học - công nghệ và dự án sản xuất thử nghiệm cấp Nhà nước về các sản phẩm trang thiết bị y tế theo quy định.
- Bộ Công nghiệp có trách nhiệm chỉ đạo, tập hợp các đơn vị nghiên cứu, các doanh nghiệp sản xuất phối hợp với Bộ Y tế tạo nên nguồn lực tổng hợp trong nghiên cứu, chế tạo, sản xuất trang thiết bị y tế.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
|
| Phạm Gia Khiêm (Đã ký) |
Quyết định 18/2005/QĐ-TTg phê duyệt Đề án "Nghiên cứu chế tạo và sản xuất trang thiết bị y tế đến năm 2010" do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 18/2005/QĐ-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 21/01/2005
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Phạm Gia Khiêm
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 2
- Ngày hiệu lực: 18/02/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
