Quy định 298-TTg ban hành năm 1959 bởi Thủ tướng Chính phủ (do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký) là một văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho công tác quản lý dân cư và đăng ký nhân khẩu trên toàn miền Bắc nước ta. Văn bản quy định chi tiết về đối tượng, đơn vị, mốc thời gian, phương thức xác định nhân khẩu thường trú và trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện cuộc tổng điều tra và đăng ký nhân khẩu lịch sử vào năm 1960.
Dưới đây là tóm tắt chi tiết và toàn diện toàn bộ nội dung của Quy định 298-TTg:
1. Phạm vi đối tượng và tổ chức đăng ký nhân khẩu (Điều 1)Quy định phân định rõ ràng trách nhiệm đăng ký đối với từng nhóm đối tượng dân cư trên lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa:
- Dân cư thông thường và ngoại kiều: Tất cả công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú trên lãnh thổ đều phải thực hiện đăng ký. Cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức là Ủy ban hành chính các cấp, với sự trợ giúp của Ban điều tra dân số.
- Lực lượng vũ trang và khu vực quân sự: Lực lượng quân đội tại ngũ, công an trong biên chế (không phân biệt nơi cư trú) và các nhân khẩu khác sống trong khu vực thuộc phạm vi quản lý của quân đội, công an sẽ do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an chịu trách nhiệm tổ chức đăng ký.
- Người Việt Nam ở nước ngoài: Cán bộ, nhân viên đại sứ quán, lãnh sự quán, lưu học sinh, thực tập sinh và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài do Bộ Ngoại giao phụ trách đăng ký.
Công tác đăng ký nhân khẩu được thực hiện theo đơn vị "hộ", trong đó mỗi hộ sử dụng một phiếu đăng ký riêng biệt và được chia làm hai loại:
- Hộ thông thường: Là một nhóm người (không giới hạn số lượng) cùng ăn, ở chung với nhau và có một người đứng ra làm chủ hộ. Trường hợp cá nhân ăn ở riêng lẻ và tự chủ cũng được tính là một hộ độc lập.
- Hộ tập thể: Là đơn vị gồm nhiều người cùng ăn, ở chung dưới sự quản lý và tổ chức của các cơ quan Nhà nước hoặc đoàn thể xã hội.
Quy định xác định mốc thời gian chuẩn để tính toán thông tin nhân khẩu là 0 giờ ngày 01 tháng 3 năm 1960 (tức 0 giờ ngày 04 tháng 02 năm Canh Tý). Việc đăng ký thực tế tại các địa phương bắt đầu từ sáng ngày 01/03/1960 dựa trên tình trạng cư trú tại mốc thời gian này:
- Những trường hợp đã chết hoặc đã di chuyển chính thức đi nơi khác trước mốc thời gian trên sẽ không được đăng ký.
- Những trường hợp mới sinh hoặc mới chuyển đến chính thức sau mốc thời gian trên cũng không thuộc diện đăng ký tại thời điểm đó.
Trên phạm vi toàn miền Bắc, Nhà nước thống nhất chỉ đăng ký loại nhân khẩu thường trú. Nguyên tắc tối cao là mỗi nhân khẩu chỉ được phép đăng ký thường trú tại một nơi duy nhất.
5. Nguyên tắc xác định nhân khẩu thường trú (Điều 5)Để tránh trùng lặp hoặc bỏ sót, quy định đưa ra các nguyên tắc cụ thể để xác định nơi thường trú:
- Nguyên tắc chung: Ngoại trừ quân nhân tại ngũ và công an biên chế, bất kỳ ai cư trú thường xuyên, cố định ở đâu thì đăng ký thường trú tại nơi đó.
- Trường hợp di chuyển có giấy tờ: Người đã rời chỗ ở cũ trước mốc thời gian đăng ký và có giấy chứng nhận di chuyển hẳn thì đăng ký thường trú tại nơi ở mới.
- Trường hợp di chuyển không có giấy tờ hoặc không rõ đi đâu: Tính từ ngày rời đi đến mốc đăng ký, nếu chưa đủ 6 tháng thì đăng ký tại nơi ở cũ; nếu đã quá 6 tháng thì đăng ký tại nơi ở mới.
- Trường hợp không có nơi cư trú nhất định: Trong thời gian đăng ký, cá nhân có mặt tại địa phương nào thì đăng ký thường trú tại đó và được cấp giấy chứng nhận đã đăng ký.
Quy định chi tiết cách thức xử lý đăng ký cho các đối tượng có tính chất cư trú đặc thù:
- Dân công: Người đi làm nghĩa vụ dân công đăng ký thường trú tại nơi cư trú cũ.
- Người điều trị tại bệnh viện: Đăng ký thường trú tại nơi ở trước khi nhập viện. Trẻ sơ sinh tại bệnh viện đăng ký theo nơi cư trú của người mẹ.
- Đối tượng bị quản lý, giam giữ: Người ở các trại hủi, trại cải tạo, phạm nhân đang thụ án tù hoặc người đang bị tạm giam đăng ký thường trú tại nơi hiện đang quản lý hoặc giam giữ họ.
- Cán bộ chờ công tác: Do cơ quan hiện đang quản lý trực tiếp thực hiện đăng ký.
- Người có nhiều chỗ ở khó xác định: Đăng ký tại nơi đã đăng ký hộ tịch thường trú, hoặc nơi được tính nhân khẩu nông nghiệp, hoặc nơi tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân.
- Người được nuôi luân lưu: Đăng ký tại hộ gia đình đang trực tiếp nuôi dưỡng họ trong thời gian tiến hành đăng ký.
Đối với nhóm dân cư sinh sống hoặc làm nghề nghiệp trên sông nước, việc đăng ký được phân loại như sau:
- Người sinh sống trên thuyền, bè: Nếu có nhà trên bộ thì đăng ký tại nơi ở trên bộ. Nếu không có nhà trên bộ thì đăng ký thường trú tại bến sông/bến cảng nơi thuyền, bè đó thường xuyên neo đậu.
- Nhân viên tàu thuyền (quốc doanh và tư doanh): Đăng ký tại nơi cư trú trên bộ của họ. Nếu không có nơi ở trên bộ thì đăng ký thường trú tại bến gốc của con tàu đó.
- Người đi lại không cố định trên mặt nước: Nếu không xác định được nơi cư trú thường xuyên, khi thuyền bè cập bến nào trong thời gian đăng ký thì địa phương đó tiến hành đăng ký và cấp giấy chứng nhận cho họ.
Đối với đồng bào du canh, trong thời gian tiến hành đăng ký, họ đang cư trú tại địa phương nào thì Ủy ban hành chính địa phương đó có trách nhiệm thực hiện đăng ký thường trú tại địa phương ấy.
9. Đăng ký hộ hỗn hợp giữa người Việt Nam và ngoại kiều (Điều 9)Trường hợp trong cùng một hộ gia đình có cả người ngoại quốc (ngoại kiều) và người Việt Nam cùng chung sống, tất cả các thành viên đều được đăng ký chung trong cùng một phiếu đăng ký của hộ đó.
10. Mẫu phiếu đăng ký nhân khẩu thống nhất (Điều 10)Việc đăng ký nhân khẩu bắt buộc phải sử dụng thống nhất mẫu phiếu đăng ký do Cục Thống kê trung ương lập và Thủ tướng phủ ban hành. Đối với các vùng đồng bào dân tộc thiểu số có chữ viết riêng (như chữ Thái, chữ Hán), địa phương được phép in phiếu bằng chữ riêng đó nhưng phải đảm bảo đúng theo mẫu chung.
11. Tổ chức thực hiện và kỷ luật đăng ký (Điều 11 & Điều 12)Quy định phân công trách nhiệm và thiết lập kỷ luật nghiêm ngặt trong quá trình triển khai:
- Trách nhiệm của Ủy ban hành chính và các Bộ: Ủy ban hành chính các cấp (với sự giúp việc của Ban điều tra dân số) chịu trách nhiệm thi hành. Bộ Quốc phòng và Bộ Công an thực hiện đăng ký cho các đối tượng thuộc quyền quản lý của mình và phải gửi bản tổng hợp kèm phiếu đăng ký về Ban điều tra dân số cấp khu, thành, tỉnh để tổng hợp chung.
- Kỷ luật thực hiện: Các cấp, các ngành tuyệt đối không được làm trái quy định, không được tự ý thay đổi, thêm bớt các hạng mục trong phiếu đăng ký nhân khẩu. Những địa phương có đặc điểm đặc thù muốn thay đổi, bổ sung quy định phải báo cáo và được sự duyệt y của Ban chỉ đạo điều tra dân số Trung ương mới được thực hiện.
- Trách nhiệm hướng dẫn: Ban chỉ đạo điều tra dân số Trung ương chịu trách nhiệm giải thích và hướng dẫn chi tiết việc thi hành quy định này trên toàn miền Bắc.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ |
| Số: 298-TTg | Hà Nội, ngày 12 tháng 08 năm 1959 |
VỀ VIỆC ĐĂNG KÝ NHÂN KHẨU TOÀN MIỀN BẮC NĂM 1959
(Đã sửa đổi theo Thông tư số 021-TTg ngày 14/1/1960 của Thủ tướng Chính phủ)
Để tiến hành công tác điều tra dân số được thuận lợi và thống nhất trong toàn miền Bắc, nay Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành bản quy định về việc đăng ký nhân khẩu.
Bản quy định đăng ký nhân khẩu này nhằm đạt mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra dân số là thu thập những tài liệu cơ bản chính xác nhất về tình hình dân số toàn miền Bắc để làm cơ sở cho việc lập kế hoạch và phục vụ công tác quản lý của Nhà nước về mọi mặt.
Tình hình dân số luôn luôn di động rất phức tạp. Điều tra dân số muốn đảm bảo đạt yêu cầu chính xác nhất, không bỏ sót, tinh trùng một nhân khẩu nào, cần phải có những quy định để thống nhất đăng ký giữa các địa phương trong toàn miền Bắc. Yêu cầu thống nhất đăng ký nhân khẩu theo bản quy định này, cần phải được quán triệt sâu sắc và cần được triệt để chấp hành đúng ở các cấp, các địa phương và toàn thể cán bộ điều tra dân số.
Toàn thể nhân dân có nghĩa vụ kê khai nhân khẩu cần hiểu rõ ý nghĩa, mục đích điều tra dân số và những điều quy định có quan hệ đến hộ mình, tới bản thân mình để giúp cho việc đăng ký được chính xác.
Điều 1. Phạm vi đối tượng và tổ chức đăng ký nhân khẩu.
1. Tất cả mọi người Việt Nam và ngoại kiều cư trú trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đều phải đăng ký theo bản quy định này và do Ủy ban hành chính các cấp, có ban điều tra dân số giúp việc, phụ trách tổ chức đăng ký.
2. Các lực lượng quân đội tại ngũ, các lực lượng công an biên chế, không phân biệt cư trú ở đâu và những nhân khẩu khác cư trú trong khu vực thuộc phạm vi quân đội, công an do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an phụ trách tổ chức đăng ký.
3. Các cán bộ, nhân viên đại sứ quán, lãnh sứ quán, nhân viên công tác khác, lưu học sinh, thực tập sinh của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, công tác hay học tập ở nước ngoài, và Việt kiều, do Bộ Ngoại giao phụ trách đăng ký.
1. Đăng ký nhân khẩu lấy hộ làm đơn vị:
- Một hộ thông thường là một số người, không kể nhiều hay ít, ăn, ở chung với nhau và có một người đứng làm chủ hộ. Người ăn, ở riêng lẻ và tự đứng làm chủ hộ cũng coi như một hộ.
- Một hộ tập thể là một đơn vị gồm có nhiều người ăn, ở chung, do cơ quan Nhà nước hay đoàn thể tổ chức quản lý.
2. Mỗi hộ đăng ký theo một phiếu riêng.
Điều 3. Mốc thời gian đăng ký.
Mốc thời gian để xác định nhân khẩu đăng ký là 0 giờ ngày 01 tháng 3 năm 1960, tức là 0 giờ ngày 04 tháng 02 năm Canh tý.
Kể từ sáng ngày 1 tháng 3 năm 1960, các địa phương sẽ bắt đầu và lần lượt tiến hành đăng ký nhân khẩu theo tình hình nhân khẩu thường trú ở địa phương vào mốc thời gian trên.
- Các nhân khẩu đã chết và đã di chuyển chính thức đi nơi khác trước mốc thời gian đều không đăng ký.
- Các nhân khẩu mới sinh và mới đến ở chính thức sau mốc thời gian đều không đăng ký.
Điều 4. Loại nhân khẩu đăng ký.
Trong phạm vi toàn miền Bắc, thống nhất đăng ký loại nhân khẩu thường trú. Mỗi nhân khẩu chỉ được đăng ký ở một nơi là nơi thường trú.
Điều 5. Những nguyên tắc chính để xác định nhân khẩu thường trú.
1. Trừ những nhân khẩu quân nhân tại ngũ và cán bộ, nhân viên công an trong biên chế, do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đăng ký theo điều 1, tiết 2 trên đây, tất cả các nhân khẩu cư trú thường xuyên cố định ở nơi nào, thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi ấy.
2. Các nhân khẩu đã rời khỏi chỗ ở cũ trước mốc thời gian đăng ký, nếu có giấy chứng nhận di chuyển hẳn thì đăng ký là nhân khẩu thường trú ở nơi cư trú mới.
3. Các nhân khẩu rời khỏi chỗ ở cũ trước mốc thời gian đăng ký, nếu không có giấy chứng nhận di chuyển hẳn hoặc không rõ đi đâu, thì tính từ ngày người đó rời chỗ ở cũ ra đi đến mốc thời gian đăng lý, nếu chưa đủ 6 tháng thì đăng ký tại nơi cư trú cũ, nếu đã quá 6 tháng thì đăng ký nơi cư trú mới.
4. Nhân khẩu không có nơi cư trú nhất định, trong thời gian tiến hành đăng ký, nếu có mặt tại đâu thì đăng đăng ký là nhân khẩu thường trú tại đấy và được cấp giấy chứng nhận đã đăng ký sau khi đăng ký xong.
Điều 6. Đăng ký các loại nhân khẩu khác.
1. Đi làm nghĩa vụ dân công: đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi cư trú cũ.
2. Thường dân nằm ở các bệnh viện: đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi cư trú trước khi vào bệnh viện. Trẻ mới sinh tại bệnh viện: đăng ký theo nơi cư trú của mẹ.
3. Nhân khẩu ở các trại hủi, trại cải tạo, phạm nhân đang ở tù, hoặc đang bị tạm giam, đều đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi hiện đang quản lý hoặc giam giữ họ.
4. Cán bộ, nhân viên nằm chờ công tác: do cơ quan hiện đang quản lý đăng ký.
5. Những nhân khẩu có nhiều chỗ ở, khó xác định nơi cư trú thường xuyên, nếu đăng ký hộ tịch thường trú tại đâu, hoặc nếu được tính nhân khẩu nông nghiệp tại đâu, hoặc bầu cử Hội đồng nhân dân tại đâu thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi đó.
6. Những nhân khẩu được nuôi luân lưu thì đăng ký tại nơi hộ đang nuôi họ trong thời gian tiến hành đăng ký.
Điều 7. Đăng ký các nhân khẩu cư trú, hoặc có nghề nghiệp trên mặt nước.
1. Những nhân khẩu làm ăn, sinh sống trên mặt nước, nếu có nơi cư trú trên bộ thì đăng ký là nhân khẩu thường trú nơi cư trú trên bộ; nếu không có nơi cư trú trên bộ mà cư trú thường xuyên trên nhà bè, thuyền bè thì nhà bè, thuyền bè ấy thuộc về bến nào thì đăng ký là nhân khẩu thường trú ở bến ấy.
2. Nhân viên làm việc trên tàu quốc doanh hoặc tư doanh, nếu có nơi cư trú trên bộ thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại nơi cư trú trên bộ; nếu không có nơi cư trú trên bộ thì đăng ký là nhân khẩu thường trú tại bến gốc của tàu đó.
3. Những nhân khẩu sinh sống làm ăn trên mặt nước, cùng với thuyền bè của họ, nếu không xác định được nơi cư trú thường xuyên thì khi họ và thuyền bè cập bến tại nơi nào trong thời gian tiến hành đăng ký, nơi ấy tổ chức đăng ký và cấp giấy chứng nhận đã đăng ký cho họ.
Trong thời gian tiến hành đăng ký những nhân khẩu du canh cư trú tại địa phương nào thì đăng ký tại địa phương ấy.
Điều 9. Người ngoại kiều và người Việt Nam ở cùng trong một hộ đều đăng ký chung trong hộ đó.
Trong khi tiến hành đăng ký, các cấp, các ngành không được làm trái với những điều ghi trong quy định này và cũng không được thay đổi, thêm bớt các hạng mục trong phiếu đăng ký nhân khẩu.
Những nơi do có tình hình có những đặc điểm riêng, khi xét cần có những thay đổi bổ sung bản quy định này thì phải báo cáo, đề nghị với Ban chỉ đạo điều tra dân số Trung ương, và sau khi duyệt y mới được thi hành.
|
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Quy định 298-TTg về việc đăng ký nhân khẩu toàn miền Bắc năm 1959 do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- Số hiệu: 298-TTg
- Loại văn bản: Quy định
- Ngày ban hành: 12/08/1959
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Phạm Văn Đồng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 3
- Ngày hiệu lực: 27/08/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
