Pháp lệnh người cao tuổi năm 2000 được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho hệ thống chính sách, pháp luật về chăm sóc, bảo vệ và phát huy vai trò của người cao tuổi tại Việt Nam, thể hiện truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh quy định đối tượng áp dụng là công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ 60 tuổi trở lên. Đồng thời, văn bản này cũng áp dụng đối với người cao tuổi là người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
Quyền, nghĩa vụ của người cao tuổi và trách nhiệm của xã hội
- Người cao tuổi được gia đình, Nhà nước và xã hội phụng dưỡng, chăm sóc, đồng thời được tạo điều kiện để phát huy vai trò theo quy định của pháp luật.
- Mọi công dân có trách nhiệm kính trọng, giúp đỡ người cao tuổi. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ biết ơn, kính trọng và chăm sóc người cao tuổi.
- Người cao tuổi có nghĩa vụ nêu gương tốt trong việc rèn luyện phẩm chất đạo đức, chấp hành pháp luật, giáo dục thế hệ trẻ giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
- Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm lập kế hoạch chăm sóc người cao tuổi và tổ chức vận động xã hội đóng góp nguồn lực cho công tác này.
Trách nhiệm phụng dưỡng người cao tuổi của gia đình
- Phụng dưỡng người cao tuổi là trách nhiệm chủ yếu của gia đình, bao gồm việc chu cấp kinh tế, chăm sóc, động viên tinh thần, tôn trọng nguyện vọng chính đáng nhằm bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại, sức khỏe, học tập, văn hóa, thông tin và giao tiếp.
- Người có nghĩa vụ phụng dưỡng bao gồm vợ hoặc chồng, con, cháu ruột và không được phép từ chối nghĩa vụ phụng dưỡng.
- Người phụng dưỡng phải sắp xếp nơi ở phù hợp với sức khỏe, tâm lý người cao tuổi; chu cấp chi phí điều trị khi ốm đau và mai táng khi người cao tuổi qua đời. Nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, hành hạ, bắt người cao tuổi làm việc quá sức.
- Trường hợp không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, người phụng dưỡng có thể ủy nhiệm cho cá nhân hoặc tổ chức dịch vụ chăm sóc chuyên nghiệp khi được sự đồng ý của người cao tuổi. Người cao tuổi có quyền yêu cầu thay đổi người chăm sóc nếu họ không làm tròn trách nhiệm.
Chính sách chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ xã hội của Nhà nước
- Người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được Nhà nước và xã hội trợ giúp thông qua các hình thức: nhận trợ cấp xã hội hoặc nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội; khám, chữa bệnh miễn phí; được Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ sở bảo trợ xã hội tổ chức và chi trả chi phí mai táng khi qua đời.
- Người cao tuổi được ưu tiên trong khám, chữa bệnh, khi tham gia giao thông công cộng và các hoạt động vui chơi giải trí.
- Trạm y tế cấp xã có trách nhiệm theo dõi, quản lý, chăm sóc sức khỏe ban đầu và tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người cao tuổi tại địa phương. Đối với người cao tuổi tàn tật, cô đơn không thể đến trạm y tế, cán bộ y tế sẽ đến khám và chữa bệnh trực tiếp tại nơi ở.
- Các bệnh viện nhà nước bắt buộc phải có khoa lão khoa hoặc dành một số giường bệnh riêng để điều trị cho người cao tuổi, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu chuyên môn kỹ thuật điều trị chuyên biệt.
- Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật chăm sóc sức khỏe tuyến dưới, bồi dưỡng cán bộ y tế và phổ biến kiến thức tự chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi.
Đời sống văn hóa, tinh thần và xã hội hóa công tác chăm sóc
- Nhà nước và xã hội tạo điều kiện thuận lợi để người cao tuổi hưởng thụ văn hóa, tham gia các hoạt động truyền thống, tham quan di tích lịch sử, danh lam cảnh đẹp của đất nước.
- Khi đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo các công trình công cộng, cơ quan chức năng phải tính đến nhu cầu hoạt động và chăm sóc người cao tuổi.
- Các cơ quan thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật về người cao tuổi, giáo dục ý thức kính trọng và biểu dương gương tốt trong việc chăm sóc người cao tuổi.
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân tự nguyện đầu tư xây dựng nhà dưỡng lão, cơ sở dịch vụ chăm sóc, trung tâm phục hồi sức khỏe, câu lạc bộ thể thao dưỡng sinh cho người cao tuổi.
- Khuyến khích thành lập Quỹ chăm sóc người cao tuổi từ nguồn đóng góp tự nguyện của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để hỗ trợ hoạt động chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng.
Phát huy vai trò của người cao tuổi
- Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người cao tuổi rèn luyện sức khỏe, học tập nâng cao trình độ và đóng góp kinh nghiệm vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
- Người cao tuổi được động viên tham gia vào các hoạt động ý nghĩa như: giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thụ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hòa giải tranh chấp tại cộng đồng; đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật; tư vấn chuyên môn và nghiên cứu khoa học công nghệ.
Quản lý nhà nước và vai trò của các tổ chức xã hội
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ, phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện nhiệm vụ này.
- Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi trong phạm vi địa phương.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên có trách nhiệm vận động gia đình và xã hội chăm sóc, bảo vệ người cao tuổi.
- Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội đại diện cho người cao tuổi, có trách nhiệm tập hợp hội viên, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi, kiến nghị với cơ quan nhà nước các chính sách liên quan và đại diện tham gia các hoạt động đối ngoại nhân dân.
Khen thưởng, xử lý vi phạm và hiệu lực thi hành
- Khen thưởng: Cá nhân, tổ chức có thành tích xuất sắc trong việc chăm sóc, giúp đỡ người cao tuổi hoặc ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật về người cao tuổi; người cao tuổi nêu gương tốt trong hoạt động xã hội sẽ được khen thưởng theo quy định.
- Xử lý vi phạm: Người nào xâm phạm quyền lợi hợp pháp, ngược đãi, hành hạ hoặc thoái thác nghĩa vụ phụng dưỡng người cao tuổi sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm; nếu gây thiệt hại phải bồi thường.
- Hiệu lực thi hành: Pháp lệnh người cao tuổi năm 2000 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2000. Các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 23/2000/PL-UBTVQH10 | Hà Nội , ngày 28 tháng 4 năm 2000 |
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 23/2000/PL-UBTVQH10 NGÀY 28 THÁNG 4 NĂM 2000 VỀ NGƯỜI CAO TUỔI
Người cao tuổi có công sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và giữ vai trò quan trọng trong gia đình và xã hội. Việc chăm sóc đời sống vật chất, tinh thần và tiếp tục phát huy vai trò của người cao tuổi là trách nhiệm của gia đình, Nhà nước và toàn xã hội, là thể hiện bản chất tốt đẹp, đạo lý, truyền thống của dân tộc ta.
Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2000;
Pháp lệnh này quy định về việc phụng dưỡng, chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi.
Mọi công dân phải kính trọng và có trách nhiệm giúp đỡ người cao tuổi.
Việc phụng dưỡng người cao tuổi là trách nhiệm chủ yếu của gia đình có người cao tuổi.
Người cao tuổi cô đơn, không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được Nhà nước và xã hội trợ giúp.
PHỤNG DƯỠNG, CHĂM SÓC NGƯỜI CAO TUỔI
2. Người có nghĩa vụ phụng dưỡng người cao tuổi là vợ hoặc chồng, con, cháu ruột.
3. Người có nghĩa vụ phụng dưỡng không được từ chối nghĩa vụ phụng dưỡng.
2. Người có nghĩa vụ phụng dưỡng phải chu cấp chi phí điều trị khi ốm đau và mai táng khi người cao tuổi chết.
3. Nghiêm cấm mọi hành vi ngược đãi, hành hạ, bắt người cao tuổi làm việc quá sức.
2. Cá nhân hoặc tổ chức dịch vụ được uỷ nhiệm có trách nhiệm thực hiện đầy đủ những cam kết với người ủy nhiệm về chăm sóc người cao tuổi.
3. Người cao tuổi có quyền yêu cầu thay đổi cá nhân hoặc tổ chức dịch vụ được uỷ nhiệm chăm sóc mình, nếu cá nhân hoặc tổ chức dịch vụ đó không làm tròn trách nhiệm.
Người cao tuổi cô đơn không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập được:
1. Trợ cấp xã hội hoặc nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội;
2. Khám, chữa bệnh miễn phí;
3. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã), cơ sở bảo trợ xã hội tổ chức, chi phí mai táng khi chết.
2. Người cao tuổi tàn tật, cô đơn không nơi nương tựa bị ốm đau nhưng không thể đến khám, chữa bệnh tại nơi quy định thì Trưởng trạm y tế cấp xã cử cán bộ y tế đến khám, chữa bệnh tại nơi ở của người cao tuổi.
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
1. Giáo dục truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, truyền thống "Uống nước nhớ nguồn"; truyền thụ kiến thức văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ;
2. Giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và hoà giải các tranh chấp, mâu thuẫn tại cộng đồng dân cư;
3. Đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật;
4. Tư vấn chuyên môn, kỹ thuật;
5. Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ;
6. Các hoạt động xã hội khác.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC NGƯỜI CAO TUỔI
Quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi bao gồm những nội dung sau đây:
1. Ban hành, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thi hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các chế độ, chính sách đối với người cao tuổi;
2. Thống kê về người cao tuổi;
3. Huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực để tăng cường đầu tư phát triển phúc lợi xã hội phục vụ việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi;
4. Hỗ trợ tổ chức người cao tuổi hoạt động;
5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp luật về người cao tuổi;
6. Xử lý vi phạm trong việc thi hành pháp luật về người cao tuổi;
7. Thực hiện quan hệ hợp tác quốc tế trong việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi.
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi.
Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về công tác người cao tuổi.
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm thực hiện việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi trong phạm vi địa phương.
Hội người cao tuổi Việt Nam là tổ chức xã hội của người cao tuổi, có trách nhiệm:
1. Tập hợp người cao tuổi tham gia sinh hoạt Hội, góp phần thực hiện chương trình kinh tế - xã hội, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;
2. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi, đề đạt với cơ quan quản lý nhà nước thực hiện việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi;
3. Kiến nghị với các cơ quan nhà nước về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của người cao tuổi;
4. Đại diện cho người cao tuổi Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế, các hoạt động đối ngoại nhân dân vì lợi ích của người cao tuổi.
Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2000.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
| Nông Đức Mạnh (Đã ký) |
- 1Thông tư 30/2005/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 30/2002/NĐ-CP và Nghị định 120/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh người cao tuổi do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 2Quyết định 772/QĐ-TTg năm 2006 về ngày truyền thống người cao tuổi Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 3Thông tư 36/2005/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 30/2002/NĐ-CP và Nghị định 120/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh người cao tuổi do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 4Thông tư 16/2002/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 30/2002/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Người cao tuổi do Bộ Lao động, Thương binh và xã hội ban hành
- 5Lệnh công bố Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi; Pháp lệnh Chống tham nhũng sửa đổi; Pháp lệnh Người cao tuổi và Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000
- 6Thông báo số 57/TB-VPCP về việc ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban quốc gia về người cao tuổi Việt Nam tại phiên họp ngày 21 tháng 2 năm 2008 do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 7Luật người cao tuổi năm 2009
- 1Thông tư 30/2005/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 30/2002/NĐ-CP và Nghị định 120/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh người cao tuổi do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 2Thông tư 02/2004/TT - BYT hướng dẫn công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi do Bộ Y tế ban hành
- 3Quyết định 772/QĐ-TTg năm 2006 về ngày truyền thống người cao tuổi Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Thông tư 36/2005/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 30/2002/NĐ-CP và Nghị định 120/2003/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh người cao tuổi do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành
- 5Hiến pháp năm 1992
- 6Nghị quyết số 33/1999/NQ-QH10 về chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2000 do Quốc Hội ban hành
- 7Nghị định 30/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh người cao tuổi
- 8Thông tư 16/2002/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 30/2002/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Người cao tuổi do Bộ Lao động, Thương binh và xã hội ban hành
- 9Nghị định 120/2003/NĐ-CP sửa đổi Điều 9 Nghị định 30/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh người cao tuổi
- 10Lệnh công bố Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi; Pháp lệnh Chống tham nhũng sửa đổi; Pháp lệnh Người cao tuổi và Pháp lệnh Nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000
- 11Thông báo số 57/TB-VPCP về việc ý kiến kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch Ủy ban quốc gia về người cao tuổi Việt Nam tại phiên họp ngày 21 tháng 2 năm 2008 do Văn phòng Chính phủ ban hành
Pháp lệnh người cao tuổi năm 2000
- Số hiệu: 23/2000/PL-UBTVQH10
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 28/04/2000
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nông Đức Mạnh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 25
- Ngày hiệu lực: 01/07/2000
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2010
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
