Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam năm 2008 được ban hành nhằm quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam. Văn bản này chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2008, thay thế cho Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 28 tháng 3 năm 1998, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng lực lượng Cảnh sát biển cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Pháp lệnh này áp dụng đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam, các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Vị trí, chức năng và nguyên tắc hoạt động của Cảnh sát biển Việt Nam
- Vị trí và chức năng: Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách của Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về an ninh, trật tự, an toàn và bảo đảm việc chấp hành pháp luật của Việt Nam cũng như các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên trên các vùng biển và thềm lục địa. Đây là lực lượng vũ trang nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước và sự quản lý thống nhất của Chính phủ. Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của lực lượng này.
- Địa bàn hoạt động: Lực lượng hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Cảnh sát biển có trách nhiệm chủ trì hoặc phối hợp với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ theo quy chế do Chính phủ quy định.
- Trách nhiệm phối hợp: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phối hợp, cộng tác, giúp đỡ lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ; được Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật khi có yêu cầu và được hưởng các chính sách theo quy định của pháp luật.
- Tiêu chuẩn cán bộ, chiến sĩ: Phải tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nắm vững pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế liên quan. Nghiêm cấm việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn để gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Nhiệm vụ cụ thể của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
- Trong nội thủy, lãnh hải và vùng nước cảng biển: Kiểm tra, kiểm soát theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế để bảo vệ chủ quyền; giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép và mua bán người, vận chuyển, mua bán trái phép hàng hóa, vũ khí, chất nổ, chất ma túy, tiền chất và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
- Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa: Tuần tra, kiểm soát để bảo vệ quyền chủ quyền, quyền tài phán; bảo vệ tài nguyên, phòng, chống ô nhiễm môi trường; phát hiện, ngăn chặn và đấu tranh chống các hành vi buôn lậu, cướp biển, cướp có vũ trang chống lại tàu thuyền, vận chuyển trái phép và buôn bán người, vận chuyển, mua bán trái phép các chất ma túy, tiền chất.
- Hợp tác quốc tế: Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình nhằm góp phần giữ gìn an ninh, trật tự, hòa bình và ổn định trên các vùng biển.
- Thu thập thông tin và cứu nạn: Thu thập, tiếp nhận thông tin, xử lý kịp thời và thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan; tham gia tìm kiếm, cứu nạn, khắc phục sự cố trên biển, bảo vệ môi trường và tổ chức ứng phó sự cố môi trường biển.
- Tuyên truyền và phối hợp bảo vệ: Tham gia tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân hoạt động trên biển; phối hợp với các lực lượng khác bảo vệ tài sản của Nhà nước, tính mạng, tài sản của người và phương tiện hoạt động hợp pháp trên biển; phối hợp với các đơn vị khác của lực lượng vũ trang để bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia trên các hải đảo, vùng biển, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa.
Quyền hạn của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
- Kiểm tra, kiểm soát và xử lý vi phạm: Khi phát hiện người và phương tiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật, Cảnh sát biển có quyền kiểm tra, kiểm soát; xử lý vi phạm hành chính, buộc chấm dứt hành vi vi phạm, rời khỏi vùng nước đang hoạt động hoặc rời khỏi vùng biển Việt Nam; bắt, giữ người và phương tiện phạm pháp quả tang, lập biên bản xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển giao cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
- Cưỡng chế và truy đuổi: Trường hợp người và phương tiện vi phạm không tuân theo hiệu lệnh, chống đối hoặc cố tình bỏ chạy, Cảnh sát biển có quyền cưỡng chế, thực hiện quyền truy đuổi hoặc các quyền khác theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế.
- Huy động người và phương tiện: Trong tình thế cấp thiết để đuổi bắt đối tượng vi phạm, cấp cứu người bị nạn, ứng phó sự cố môi trường nghiêm trọng, Cảnh sát biển được quyền huy động người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam và phải hoàn trả ngay khi tình thế cấp thiết chấm dứt; nếu có thiệt hại về tài sản thì phải bồi thường. Người được huy động bị thương hoặc hy sinh được giải quyết theo chính sách của Nhà nước. Nếu không có phương tiện Việt Nam, Cảnh sát biển có thể đề nghị cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên vùng biển Việt Nam giúp đỡ.
- Trưng dụng tài sản: Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, người có thẩm quyền trong lực lượng Cảnh sát biển được quyền trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức Việt Nam theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản.
- Trang bị vũ khí và biện pháp nghiệp vụ: Được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ, các biện pháp nghiệp vụ để thực hiện nhiệm vụ.
- Hoạt động điều tra hình sự: Tiến hành hoạt động điều tra tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về tổ chức điều tra hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Quy định về việc nổ súng khi thi hành nhiệm vụ
Khi thi hành nhiệm vụ, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam được nổ súng trong các trường hợp sau đây:
- Người vi phạm dùng vũ khí chống trả hoặc dùng biện pháp khác trực tiếp đe dọa tính mạng và an toàn phương tiện của Cảnh sát biển Việt Nam.
- Khi truy đuổi người và phương tiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng, nếu không dùng vũ khí thì người và phương tiện đó có thể chạy thoát.
- Để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe dọa tính mạng.
- Nguyên tắc nổ súng: Chỉ được bắn vào đối tượng sau khi đã ra lệnh cho họ dừng lại hoặc nổ súng cảnh cáo mà không có kết quả, trừ trường hợp cấp bách. Đối với những trường hợp phức tạp, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, an ninh quốc gia thì phải báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
Tổ chức, biên chế và chế độ phục vụ
- Tổ chức và biên chế: Tổ chức và hoạt động của lực lượng do Chính phủ quy định. Biên chế, trang bị cụ thể do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định. Lực lượng bao gồm sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ, công chức quốc phòng và công nhân quốc phòng.
- Chế độ phục vụ và bổ nhiệm: Việc bổ nhiệm, cách chức, giáng chức, phong, thăng, giáng và tước cấp bậc quân hàm đối với sĩ quan thực hiện theo Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; đối với quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ thực hiện theo Luật Nghĩa vụ quân sự; đối với công chức và công nhân quốc phòng thực hiện theo quy định pháp luật liên quan. Chế độ phục vụ chung được áp dụng như đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân.
- Cờ hiệu, phù hiệu và trang phục: Cảnh sát biển Việt Nam có cờ hiệu, phù hiệu và trang phục riêng do Chính phủ quy định. Khi làm nhiệm vụ, tàu thuyền và phương tiện phải treo quốc kỳ và cờ hiệu Cảnh sát biển; cán bộ, chiến sĩ phải mặc trang phục và mang phù hiệu đúng quy định.
Quản lý nhà nước đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
- Nội dung quản lý nhà nước: Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy lực lượng; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ; thực hiện chế độ, chính sách; kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm và thực hiện hợp tác quốc tế.
- Trách nhiệm quản lý: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và chủ trì phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Các bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ và tạo điều kiện để lực lượng Cảnh sát biển thực hiện nhiệm vụ.
Xây dựng lực lượng và bảo đảm hoạt động
- Chính sách xây dựng lực lượng: Nhà nước xây dựng lực lượng Cảnh sát biển cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; ưu tiên đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, trang bị vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại.
- Chế độ, chính sách ưu đãi: Cán bộ, chiến sĩ được hưởng các chế độ như Quân đội nhân dân và các chính sách ưu đãi đặc thù phù hợp với tính chất, địa bàn hoạt động bao gồm: Phụ cấp công tác lâu năm ở biên giới, hải đảo; phụ cấp trách nhiệm theo nghề đặc thù; phụ cấp đi biển.
- Tuyển chọn và đào tạo: Công dân đủ tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, sức khỏe và có nguyện vọng có thể được tuyển chọn vào lực lượng. Ưu tiên tuyển chọn sinh viên, học sinh tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường nghề để bổ sung vào lực lượng. Cán bộ, chiến sĩ được đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, pháp luật để hoàn thành nhiệm vụ.
- Kinh phí hoạt động: Do ngân sách nhà nước bảo đảm.
Hiệu lực thi hành
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2008 và thay thế hoàn toàn cho Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 28 tháng 3 năm 1998. Chính phủ chịu trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 03/2008/PL-UBTVQH12 | Hà Nội, ngày 26 tháng 01 năm 2008 |
ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Căn cứ Nghị quyết số 11/2007/QH12 của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ khóa XII (2007 - 2011) và năm 2008;
Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam hoạt động theo quy định của Pháp lệnh này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
Bộ Quốc phòng trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có trách nhiệm thực hiện, phối hợp với các lực lượng khác thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Quy chế phối hợp hoạt động, trách nhiệm cụ thể của các lực lượng do Chính phủ quy định.
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam không được lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
1. Trong tình thế cấp thiết phải đuổi bắt người và phương tiện vi phạm pháp luật, cấp cứu người bị nạn, ứng phó với sự cố môi trường nghiêm trọng thì lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quyền huy động người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam, nhưng phải hoàn trả ngay khi tình thế cấp thiết chấm dứt; trường hợp có thiệt hại về tài sản thì phải bồi thường. Người được huy động làm nhiệm vụ mà bị thương hoặc bị chết thì được giải quyết theo chính sách của Nhà nước; trong trường hợp không có người, phương tiện của cá nhân, tổ chức Việt Nam để huy động hoặc đã huy động nhưng vẫn chưa giải quyết được tình thế cấp thiết, thì lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam có thể đề nghị người nước ngoài, phương tiện của cá nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động trên các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam giúp đỡ theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế có liên quan mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
2. Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, người có thẩm quyền trong lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được quyền trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức Việt Nam theo quy định của pháp luật về trưng mua, trưng dụng tài sản.
1. Khi người vi phạm dùng vũ khí chống trả hoặc dùng biện pháp khác trực tiếp đe doạ tính mạng và an toàn phương tiện của Cảnh sát biển Việt Nam;
2. Khi truy đuổi người và phương tiện có hành vi vi phạm nghiêm trọng, nếu không dùng vũ khí thì người và phương tiện đó có thể chạy thoát;
3. Để bảo vệ công dân khi bị người khác trực tiếp đe doạ tính mạng.
Trong các trường hợp được nổ súng quy định tại Điều này, cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam chỉ được bắn vào đối tượng sau khi đã ra lệnh cho họ dừng lại hoặc nổ súng cảnh cáo mà không có kết quả, trừ trường hợp cấp bách; đối với những trường hợp phức tạp, có ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, an ninh quốc gia thì phải báo cấp có thẩm quyền quyết định.
TỔ CHỨC CỦA LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Điều 17. Tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam do Chính phủ quy định.
Biên chế, trang bị cụ thể của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.
1. Đối với sĩ quan thực hiện theo Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;
2. Đối với quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ thực hiện theo Luật nghĩa vụ quân sự;
3. Đối với công chức quốc phòng, công nhân quốc phòng thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.
Khi làm nhiệm vụ, tàu thuyền và các phương tiện khác của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam phải treo quốc kỳ và cờ hiệu Cảnh sát biển Việt Nam; cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển phải mặc trang phục và mang phù hiệu Cảnh sát biển Việt Nam.
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
Điều 22. Nội dung quản lý nhà nước đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam bao gồm:
1. Ban hành, tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam;
2. Tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam;
3. Tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam;
4. Thực hiện chế độ, chính sách đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam;
5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật thuộc lĩnh vực hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam;
6. Hợp tác quốc tế.
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
2. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam; hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và chủ trì phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc xây dựng, tổ chức và hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về các hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, hỗ trợ và tạo điều kiện để lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam thực hiện nhiệm vụ.
5. Chính phủ ban hành Quy chế phối hợp giữa Bộ Quốc phòng với bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG VÀ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI LỰC LƯỢNG CẢNH SÁT BIỂN VIỆT NAM
2. Nhà nước có chính sách, chế độ ưu đãi phù hợp với tính chất nhiệm vụ, phạm vi địa bàn hoạt động của lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam như sau:
a) Phụ cấp công tác lâu năm ở biên giới, hải đảo;
b) Phụ cấp trách nhiệm theo nghề đặc thù của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát biển Việt Nam;
c) Phụ cấp đi biển;
Chính phủ quy định cụ thể chế độ, chính sách ưu đãi đối với lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
2. Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam được ưu tiên tuyển chọn công dân quy định tại khoản 1 Điều này là sinh viên, học sinh tốt nghiệp ở học viện, trường đại học, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề để bổ sung vào lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam.
Điều 29. Pháp lệnh này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 07 năm 2008.
Pháp lệnh này thay thế Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam ngày 28 tháng 3 năm 1998.
Điều 30. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.
| TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Nghị quyết số 11/2007/QH12 về việc chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011) và năm 2008 do Quốc hội ban hành
- 4Lệnh công bố Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam 2008
- 5Nghị định 86/2009/NĐ-CP Hướng dẫn Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam
- 6Nghị định 96/2013/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 86/2009/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
- 7Pháp lệnh Cảnh sát cơ động 2013 do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành
- 8Nghị định 13/2015/NĐ-CP sửa đổi Điều 9 Nghị định 86/2009/NĐ-CP hướng dẫn Pháp lệnh lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam
Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 2008
- Số hiệu: 03/2008/PL-UBTVQH12
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 26/01/2008
- Nơi ban hành: Uỷ ban Thường vụ Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Phú Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 157 đến số 158
- Ngày hiệu lực: 01/07/2008
- Ngày hết hiệu lực: 01/07/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
