Ngày 10 tháng 5 năm 1988, Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công đã ký ban hành Pháp lệnh Kế toán và thống kê năm 1988 nhằm thiết lập hệ thống quản lý, kiểm tra kinh tế, tài chính thống nhất và hiệu quả trong nền kinh tế quốc dân.
Phạm vi và đối tượng áp dụng:
Pháp lệnh áp dụng đối với tất cả các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh, các đơn vị tập thể và tư nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, cùng các cơ quan, tổ chức có sử dụng kinh phí của Nhà nước hoặc đoàn thể. Đối với các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, chế độ kế toán và thống kê được thực hiện theo các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế phổ biến được Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê Việt Nam thừa nhận, đồng thời chịu sự kiểm tra của các cơ quan tài chính, thống kê Việt Nam.
Nguyên tắc thống nhất trong công tác kế toán và thống kê
- Công tác kế toán và thống kê phải được thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước về hệ thống chứng từ ghi chép ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ sách, biểu mẫu báo cáo, phương pháp tính chỉ tiêu kinh tế - tài chính, phân ngành kinh tế, đơn vị đo lường và niên độ kế toán, thống kê.
- Hệ thống chứng từ và biểu mẫu báo cáo phải được tinh giảm, thiết thực và tránh trùng lắp để tối ưu hóa quy trình quản lý.
Vai trò của Kế toán trưởng và tính độc lập chuyên môn
- Bắt buộc phải có vị trí Kế toán trưởng tại các xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh để giúp Giám đốc tổ chức, chỉ đạo công tác kế toán, thống kê và thực hiện kiểm tra, kiểm soát kinh tế, tài chính.
- Người làm công tác kế toán, thống kê được bảo đảm quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ theo hướng dẫn của cơ quan cấp trên.
- Nghiêm cấm người làm công tác kế toán tại các xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã và đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước kiêm nhiệm các công việc thủ kho, thủ quỹ hoặc làm tiếp liệu để tránh xung đột lợi ích và gian lận.
Hệ thống thông tin thống kê nhà nước và giá trị pháp lý của số liệu
- Hệ thống thông tin thống kê nhà nước bao gồm: Hệ thống thông tin thống kê tập trung do Tổng cục Thống kê thực hiện (thu thập thông tin kinh tế - xã hội chủ yếu phục vụ quản lý nhà nước) và Hệ thống thông tin thống kê của các Bộ, Ủy ban Nhà nước, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Ủy ban nhân dân các cấp.
- Số liệu, tài liệu kế toán và thống kê có giá trị pháp lý để đánh giá kết quả sản xuất, kinh doanh, thực hiện kế hoạch và nghĩa vụ của đơn vị. Các số liệu thuộc bí mật Nhà nước phải được bảo mật nghiêm ngặt theo quy định.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động kế toán, thống kê
- Giả mạo chứng từ, lập sổ sách hoặc báo cáo kế toán, thống kê sai sự thật.
- Hủy bỏ chứng từ, sổ sách, báo cáo trước khi hết thời hạn bảo quản, lưu trữ quy định.
- Khai man, báo cáo sai sự thật hoặc ép buộc người khác thực hiện hành vi khai man số liệu.
- Để ngoài sổ sách kế toán các loại tài sản, vật tư, tiền vốn và kinh phí của đơn vị.
- Làm lộ bí mật nhà nước liên quan đến số liệu kế toán, thống kê.
- Sử dụng các loại chứng từ, biểu mẫu không hợp lệ.
Quy định về nghiệp vụ ghi chép, tài khoản và sổ kế toán
- Ghi chép ban đầu: Mọi hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh phải lập ngay chứng từ gốc một lần duy nhất theo đúng mẫu quy định, bảo đảm ghi chép đầy đủ, kịp thời, chính xác và có đủ chữ ký, con dấu hợp lệ.
- Phương pháp ghi chép: Phải tuân thủ đúng phương pháp chuyên môn nghiệp vụ do Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê ban hành.
- Tài khoản và sổ kế toán: Mỗi đơn vị chỉ được phép sử dụng một hệ thống sổ kế toán chính thức. Sổ kế toán phải mở theo hệ thống tài khoản do Bộ Tài chính quy định (hoặc hệ thống tài khoản đặc thù ngành đã được Bộ Tài chính thỏa thuận bằng văn bản). Việc ghi sổ phải rõ ràng, liên tục, không tẩy xóa.
- Kiểm kê tài sản: Các đơn vị bắt buộc phải tiến hành kiểm kê tài sản vào cuối niên độ kế toán để phản ánh kết quả vào sổ kế toán trước khi lập báo cáo quyết toán năm, hoặc thực hiện kiểm kê đột xuất theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Báo cáo và điều tra thống kê
- Báo cáo kế toán, thống kê: Phải lập đầy đủ, nộp đúng hạn, chính xác dựa trên số liệu thực tế từ sổ sách, chứng từ. Người lập và ký duyệt báo cáo phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về tính chính xác của số liệu.
- Điều tra thống kê: Hội đồng Bộ trưởng quyết định các cuộc tổng điều tra quy mô lớn; Tổng cục Thống kê quyết định các cuộc điều tra định kỳ hoặc đột xuất trong phạm vi chức năng; các Bộ, ngành, địa phương chỉ được tổ chức điều tra trong phạm vi quản lý sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Tổng cục Thống kê. Đơn vị và công dân có nghĩa vụ cung cấp thông tin chính xác, kịp thời cho các cuộc điều tra này.
Kiểm tra kế toán, thống kê và trách nhiệm quản lý nhà nước
- Cơ quan tài chính, thống kê và cơ quan chủ quản có trách nhiệm kiểm tra thường xuyên, hệ thống việc chấp hành chế độ kế toán, thống kê. Công tác kiểm tra kế toán tại đơn vị phải được thực hiện ít nhất một lần mỗi năm và trước khi xét duyệt quyết toán.
- Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê là hai cơ quan giúp Hội đồng Bộ trưởng quản lý thống nhất công tác kế toán, thống kê trong nền kinh tế quốc dân.
- Thủ trưởng và kế toán trưởng (hoặc người phụ trách kế toán) của đơn vị chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và bảo đảm tính trung thực của số liệu kế toán, thống kê tại đơn vị mình.
Xử lý vi phạm
- Mọi hành vi vi phạm chế độ kế toán và thống kê sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự tùy theo mức độ nghiêm trọng của hành vi.
Hiệu lực thi hành:
Pháp lệnh Kế toán và thống kê năm 1988 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1988. Tất cả các quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bị bãi bỏ. Hội đồng Bộ trưởng chịu trách nhiệm quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 6-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 1988 |
Để góp phần tăng cường quản lý kinh tế - tài chính của các cấp, các ngành, thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế và khai thác các tiềm năng của đất nước;
Để đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, bảo đảm những thông tin bằng số liệu đầy đủ, kịp thời, chính xác và thống nhất ở mỗi cấp, mỗi ngành và trong cả nước;
Căn cứ Điều 100 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Pháp lệnh này quy định chế độ kế toàn và thống kê áp dụng trong nền kinh tế quốc dân.
2- Xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chế độ kế toán và thống kê theo những nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế phổ biến được Bộ Tài chính và Tổng cục thống kê nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thừa nhận và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính và thống kê Việt Nam.
Công tác kế toán, công tác thống kê phải thực hiện thống nhất trong phạm vi nền kinh tế quốc dân về:
1- Hệ thống chứng từ ghi chép ban đầu;
2- Hệ thống tài khoản và sổ sách;
3- Hệ thống biểu mẫu báo cáo;
4- Hệ thống và phương pháp tính các chỉ tiêu kinh tế, tài chính;
5- Phân ngành kinh tế quốc dân, loại hình kinh tế, các bảng danh mục, phân loại, mã hoá và mục lục ngân sách Nhà nước;
6- Các đơn vị đo lường;
7- Niên độ kế toán, thống kê.
Hệ thống chứng từ, biểu mẫu báo cáo kế toán, thống kê phải tinh giảm, thiết thực, không trùng lắp.
Tại mỗi xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh phải có kế toán trưởng.
Kế toán trưởng giúp giảm đốc xí nghiệp tổ chức, chỉ đạo thực hiện thống nhất công tác kế toán và thống kế, đồng thời có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát kinh tế, tài chính ở xí nghiệp.
2- Những người làm công tác kế toán trong xí nghiệp quốc doanh, công tư hợp doanh, hợp tác xã, đơn vị có sử dụng kinh phí của Nhà nước và đoàn thể không được kiêm nhiệm giữ kho, giữ quỹ, làm tiếp liệu.
Hệ thống thông tin thống kê của Nhà nước gồm:
1- Hệ thống thông tin thống kê tập trung do Tổng cục thống kê tổ chức thực hiện, gồm các thông tin chủ yếu về tình hình kinh tế - xã hội đáp ứng yêu cầu quản lý của Nhà nước. Hệ thống này được thu thập và tổng hợp từ thông tin của các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng, các cơ quan địa phương và đơn vị cơ sở theo nguyên tắc tập trung và thống nhất.
2- Hệ thống thông tin thống kê của các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng và Uỷ ban nhân dân các cấp gồm những thông tin để cung cấp cho hệ thống thông tin thống kê tập trung và những thông tin để đáp ứng yêu cầu quản lý của ngành và địa phương.
3- Thẩm quyền và thể thức công bố số liệu kế toán, thống kê do Hội đồng bộ trưởng quy định.
Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
1- Giả mạo chứng từ, lập sổ sách, báo cáo kế toán thống kê sai sự thật.
2- Huỷ bỏ chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán và thống kê khi chưa hết thời hạn bảo quản và lưu trữ theo quy định.
3- Khai man số liệu, báo cáo sai sự thật hoặc ép buộc người khác khai man số liệu, báo cáo sai sự thật.
4- Để ngoài sổ sách kế toán tài sản, vật tư, tiền vốn và kinh phí.
5- Làm lộ bí mật những số liệu kế toán, thống kê thuộc bí mật Nhà nước.
6- Sử dụng các loại chứng từ, biểu mẫu không hợp lệ.
NHỮNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN, THỐNG KÊ
2- Chứng từ gốc chỉ lập một lần và phải ghi chép đầy đủ, kịp thời, đúng sự thật, chính xác mọi hoạt động kinh tế, tài chính đã phát sinh, phải có đủ chữ ký của người chịu trách nhiệm và dấu của đơn vị theo tính chất của từng loại chứng từ.
Phương pháp ghi chép kế toán, thống kê:
Việc ghi chép kế toán, thống kê phải theo đúng các phương pháp chuyên môn nghiệp vụ do Bộ Tài chính và Tổng cục thống kê quy định.
Mỗi đơn vị chỉ có một hệ thống sổ kế toán chính thức. Số kế toán phải mở theo hệ thống tài khoản kế toán do Bộ Tài chính quy định hoặc hệ thống tài khoản kế toán do các Bộ, Tổng cục quy định phù hợp với các hoạt động đặc thù của ngành sau khi được Bộ Tài chính thoả thuận bằng văn bản.
Căn cứ ghi sổ kế toán là chứng từ kế toán. Ghi sổ kế toán phải rõ ràng, liên tục, không được tẩy xoá. Mở sổ và khoá số kế toán phải theo đúng các quy định của Bộ Tài chính.
Hết niên độ kế toán các đơn vị phải kiểm kê tài sản và phản ảnh kết quả kiểm kê tài sản vào sổ kế toán trước khi lập báo cáo quyết toán năm. Ngoài ra, các đơn vị phải kiểm kê tài sản trong các trường hợp khác theo quyết định của Hội đồng bộ trưởng và theo chế độ kiểm kê tài sản.
1- Các đơn vị phải lập đầy đủ và nộp đúng hạn các báo cáo kế toán, thống kê theo quy định của cơ quan có thẩm quyền.
2- Báo cáo kế toán, thống kê phải chính xác. Tính toán các chỉ tiêu phải theo đúng nội dung và phương pháp do Bộ Tài chính và Tổng cục thống kê quy định.
3- Báo cáo kế toán, thống kê của các đơn vị phải lập trên cơ sở số liệu của các sổ kế toán, thống kê, các chứng từ; báo cáo kế toán, thống kê của các cơ quan quản lý cấp trên phải tổng hợp theo số liệu báo cáo của các đơn vị trực thuộc.
4- Những người có nhiệm vụ lập và ký duyệt các báo cáo kế toán, thống kê phải chịu trách nhiệm về sự chính xác của số liệu thuộc phạm vi chức năng của mình.
1- Hội đồng bộ trưởng quyết định và chỉ đạo thực hiện các cuộc tổng điều tra thống kê trên phạm vi lớn, có liên quan đến ngành, nhiều lĩnh vực.
2- Tổng cục thống kê quyết định và chỉ đạo thực hiện các cuộc điều tra thống kê định kỳ và không định kỳ để thu thập những thông tin kinh tế - xã hội, thuộc phạm vi chức năng đã được Hội đồng bộ trưởng quy định.
3- Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, các cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng và Uỷ ban nhân dân các cấp được tổ chức các cuộc điều tra thống kê trong phạm vi quản lý để thu thập những thông tin cấn thiết theo yêu cầu quản lý của ngành, địa phương sau khi có sự đồng ý bằng văn bản của Tổng cục thống kê và phải gửi kết quả các cuộc điều tra này cho Tổng cục thống kê.
4- Các đơn vị và mọi công dân có trách nhiệm cung cấp kịp thời, chính xác các số liệu có liên quan theo đúng nội dung và thời gian quy định của các cuộc điều tra thống kê.
5- Trong các cuộc điều tra thống kê, trưởng ban điều tra và người trực tiếp phụ trách thống kê ở mỗi cấp, mỗi ngành chịu trách nhiệm về sự sai sót của số liệu điều tra thuộc phạm vi phụ trách.
1- Các cơ quan tài chính, thống kê và các cơ quan chủ quản phải kiểm tra việc chấp hành chế độ kế toán, thống kê một cách thường xuyên và có hệ thống đối với các đơn vị theo chức năng và quyền hạn của mình.
2- Việc kiểm tra kế toán phải được thực hiện ở đơn vị ít nhất mỗi năm một lần và nhất thiết phải được thực hiện trước khi xét duyệt quyết toán.
3- Thủ trưởng và kế toán trưởng hoặc người phụ trách kế toán phải chấp hành lệnh kiểm tra định kỳ và bất thường của cơ quan tài chính, thống kê và cơ quan chủ quản, đồng thời có trách nhiệm tổ chức kiểm tra công tác kế toán và thống kê trong nội bộ đơn vị.
Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 10 năm 1988.
Những quy định trước đây trái với Pháp lệnh này đều bãi bỏ.
Hội đồng bộ trưởng quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này.
|
| Võ Chí Công (Đã ký) |
- 1Chỉ thị 30/2006/CT-BNN về tăng cường năng lực và đổi mới công tác thống kê do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành
- 2Quyết định 142/QĐ-TCTK năm 2006 về điều tra hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2006 do Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê ban hành
- 3Quyết định 195-HĐBT năm 1989 bổ sung Quyết định 217-HĐBT về việc hoạt động của các Xí nghiệp quốc doanh do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Nghị định 57-CP năm 1993 Hướng dẫn Luật thuế lợi tức và Luật thuế lợi tức sửa đổi
- 5Thông tư 45/TC/TCT-1996 hướng dẫn Nghị định 22/CP-1996 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 6Quyết định 99/2000/QĐ-BTC về Chế độ kế toán công ty chứng khoán do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 7Luật Kế toán 2003
- 8Luật Thống kê 2003
- 1Chỉ thị 30/2006/CT-BNN về tăng cường năng lực và đổi mới công tác thống kê do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành
- 2Quyết định 142/QĐ-TCTK năm 2006 về điều tra hoạt động sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp năm 2006 do Tổng cục trưởng Tổng cục thống kê ban hành
- 3Hiến pháp năm 1980
- 4Quyết định 292-CT năm 1988 về việc lập chứng từ mua, bán hàng và cung ứng dịch vụ thu tiền do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Nghị định 26-HĐBT năm 1989 Điều lệ kế toán trưởng xí nghiệp quốc doanh do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6Quyết định 195-HĐBT năm 1989 bổ sung Quyết định 217-HĐBT về việc hoạt động của các Xí nghiệp quốc doanh do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 7Nghị định 52-HĐBT năm 1992 về xử phạt những hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán và thống kê do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 8Nghị định 57-CP năm 1993 Hướng dẫn Luật thuế lợi tức và Luật thuế lợi tức sửa đổi
- 9Thông tư 45/TC/TCT-1996 hướng dẫn Nghị định 22/CP-1996 về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế do Bộ Tài chính ban hành
- 10Thông tư 555-TCTK/PPCD-1988 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Kế toán và thống kê (Phần Thống kê) do Tổng cục Thống kê ban hành
- 11Công văn về việc triển khai thi hành Pháp lệnh kế toán và thống kê; Điều lệ Tổ chức kế toán Nhà nước và Điều lệ kế toán trưởng
- 12Nghị định 49/1999/NĐ-CP về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế toán
- 13Quyết định 99/2000/QĐ-BTC về Chế độ kế toán công ty chứng khoán do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
Pháp lệnh Kế toán và thống kê năm 1988 do Chủ tịch Hội đồng nhà nước ban hành
- Số hiệu: 6-LCT/HĐNN8
- Loại văn bản: Pháp lệnh
- Ngày ban hành: 20/05/1988
- Nơi ban hành: Hội đồng Nhà nước
- Người ký: Võ Chí Công
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 17
- Ngày hiệu lực: 01/10/1988
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
