Nghị quyết về vấn đề kiện toàn tổ chức Quốc hội do Quốc hội ban hành là văn bản pháp lý quan trọng nhằm mục đích củng cố, sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Quốc hội. Văn bản tập trung vào việc điều chỉnh cơ cấu tổ chức, phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan thuộc Quốc hội nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.
Phạm vi áp dụng của Nghị quyết bao gồm các quy định về cơ cấu tổ chức, nguyên tắc làm việc và mối quan hệ công tác của các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Đối tượng áp dụng trực tiếp là các cơ quan của Quốc hội, các đại biểu Quốc hội, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong hoạt động của Quốc hội.
Dựa trên nội dung trích xuất về phần mở đầu và các điều khoản đầu tiên (từ Điều 1 đến Điều 4), các nội dung cốt lõi được quy định cụ thể như sau:
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Quốc hội (Điều 1)- Xác định nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội hoạt động theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.
- Khẳng định vai trò của Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan của Quốc hội, bảo đảm tính chuyên nghiệp, hiện đại, tinh gọn và đồng bộ.
- Phân định rõ ràng thẩm quyền, trách nhiệm, tránh chồng chéo chức năng, nhiệm vụ giữa các Ủy ban và Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.
- Quy định về cơ cấu thành viên, tiêu chuẩn đối với thành viên thường trực, thành viên chuyên trách của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
- Xác lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thẩm tra các dự án luật, pháp lệnh và thực hiện các chương trình giám sát chuyên đề.
- Quy định trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội.
- Xác định quyền hạn của các cơ quan thuộc Quốc hội trong việc yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ cho hoạt động chuyên môn.
Hiện tại, các thông tin chi tiết về ngày ban hành, ngày áp dụng cũng như tình trạng hiệu lực cụ thể của Nghị quyết này đang được cập nhật. Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan cần theo dõi các văn bản hướng dẫn thi hành kèm theo để thực hiện đúng quy định pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Hà Nội, ngày 24 tháng 1 năm 1957 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VẤN ĐỀ KIỆN TOÀN TỔ CHỨC QUỐC HỘI
QUỐC HỘI NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA, HỌP KHOÁ THỨ 6
Sau khi nghe báo cáo và thảo luận đề nghị của Ban thường trực Quốc hội về việc kiện toàn tổ chức Quốc hội;
Trong khi chờ đợi sửa đổi Hiến pháp;
Để tăng cường hoạt động của Quốc hội, của Ban thường trực Quốc hội và của các đại biểu Quốc hội,
QUYẾT NGHỊ:
I- TUYỂN CỬ BỔ SUNG.
1. Trong năm 1957, sẽ tổ chức tuyển cử bổ sung để bầu số đại biểu thay thế các đại biểu Quốc hội đã khuyết, tại các đơn vị bầu cử ở miền Bắc.
2. Việc bầu cử sẽ tổ chức theo nguyên tắc và thể lệ hiện hành.
3. Thời gian tiến hành bầu cử sẽ do Ban thường trực Quốc hội và Chính phủ quy định.
II- MẤY ĐIỀU QUY ĐỊNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI.
1. Để hiểu rõ tình hình nhân dân đề đạt ý kiến nguyện vọng của nhân dân lên Quốc hội, các đại biểu Quốc hội phải giữ sự liên hệ với nhân dân ở địa phương đã bầu ra mình hay là ở một nơi thuận lợi với hoàn cảnh cư trú.
Chính quyền các cấp có trách nhiệm giúp đỡ các đại biểu hiểu rõ tình hình nhân dân.
Tuỳ theo nhu cầu công tác Ban thường trực Quốc hội tổ chức những đoàn đại biểu đi tiếp xúc với nhân dân.
2. Ban thường trực Quốc hội cần nghiên cứu một khoản phụ cấp và những quy định cần thiết cho đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ của mình.
3. Mỗi đại biểu Quốc hội có một huy hiệu, hình thức và cách sử dụng huy hiệu sẽ do Ban thường trực Quốc hội quy định.
4- Quyền bất khả xâm phạm của các đại biểu Quốc hội như đã ghi trong điều 40 Hiến pháp năm 1946 phải được bảo đảm.
III- NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA BAN THƯỜNG TRỰC QUỐC HỘI:
Giữa hai khoá họp của Quốc hội, Ban thường trực Quốc hội có nhiệm vụ và có quyền:
1. Triệu tập Quốc hội và giữ quan hệ với các đại biểu Quốc hội.
2. Biểu quyết các sắc luật do Chính phủ đề ra. Những dự thảo sắc luật của Chính phủ đưa ra trình bày trước Ban thường trực Quốc hội phải do một đại diện Chính phủ thuyết trình. Những sắc luật do Ban thường trực Quốc hội biểu quyết đều đem trình Quốc hội vào khoá họp gần nhất. Những sắc luật được Quốc hội chuẩn y trở thành những đạo luật của Nhà nước.
3. Xét và đề ra để Chính phủ sửa đổi hoặc huỷ bỏ những sắc lệnh và nghị định không phù hợp với những đạo luật và sắc luật.
4. Thảo luận với Chính phủ về việc Chính phủ cử người thay thế hoặc bổ sung các Bộ trưởng. Danh sách những Bộ trưởng được cử sẽ đưa trình Quốc hội trong khoá họp gần nhất.
5. Thoả thuận với Chính phủ về thi hành những hiệp ước ký với nước ngoài. Những hiệp ước sau khi ký và được Ban thường trực Quốc hội thoả thuận cho thi hành phải đưa trình Quốc hội trong khoá họp gần nhất.
6. Ban thường trực Quốc hội tổ chức như sau:
- Tổng số uỷ viên trong Ban thường trực Quốc hội là 15 uỷ viên chính thức và 3 uỷ viên dự khuyết.
- Ban thường trực Quốc hội gồm:
1 Trưởng ban,
1 Phó trưởng ban,
1 Thư ký,
12 uỷ viên thường và 3 uỷ viên dự khuyết.
- Các uỷ viên trong Ban thường trực Quốc hội không giữ chức vụ trong Chính phủ.
IV- SINH HOẠT CỦA QUỐC HỘI.
Quốc hội họp thường lệ mỗi năm 2 lần, trong trường hợp cần thiết sẽ họp hội nghị bất thường.
| Tôn Đức Thắng (Đã ký) |
- 1Thông tư 358-TTg năm 1957 về việc kiện toàn các cơ quan phụ trách công tác phục viên các cấp và cơ quan giúp việc do Phủ thủ tướng ban hành
- 2Nghị định 168-TTg năm 1958 về việc thành lập Uỷ ban Kiện toàn tổ chức trung ương, khu, thành và tỉnh do Thủ Tướng ban hành
- 3Thông tư 1155-TTg năm 1956 về việc kiện toàn tổ chức, sắp xếp cán bộ các cấp tỉnh huyện ở những nơi đã qua cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức do Phủ Thủ Tướng ban hành
- 1Nghị định 168-TTg năm 1958 về việc thành lập Uỷ ban Kiện toàn tổ chức trung ương, khu, thành và tỉnh do Thủ Tướng ban hành
- 2Thông tư 358-TTg năm 1957 về việc kiện toàn các cơ quan phụ trách công tác phục viên các cấp và cơ quan giúp việc do Phủ thủ tướng ban hành
- 3Thông tư 1155-TTg năm 1956 về việc kiện toàn tổ chức, sắp xếp cán bộ các cấp tỉnh huyện ở những nơi đã qua cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức do Phủ Thủ Tướng ban hành
Nghị quyết về vấn đề kiện toàn tổ chức Quốc hội do Quốc hội ban hành
- Số hiệu: Khôngsố
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 24/01/1957
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Tôn Đức Thắng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 08/02/1957
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
