Nghị quyết số 24/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp thứ Nhất ngày 24 tháng 4 năm 2026, quy định về việc thí điểm thực hiện chế định luật sư công tại Việt Nam. Đây là một bước đi mang tính đột phá nhằm xây dựng cơ chế bảo vệ tối ưu quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, các cơ quan hành chính và doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội sâu rộng. Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026 và kéo dài thí điểm đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2028.
1. Phạm vi điều chỉnh, đối tượng và địa bàn thí điểmNghị quyết này thiết lập khung pháp lý thí điểm cho chế định luật sư công, bao gồm các quy định về nguyên tắc hoạt động, tiêu chuẩn chuyên môn, phạm vi công việc, quyền và nghĩa vụ, cơ chế sử dụng cũng như các chế độ, chính sách đãi ngộ đặc thù. Địa bàn và cơ quan thực hiện thí điểm được giới hạn cụ thể như sau:
- Các cơ quan trung ương: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng.
- Các địa phương: Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương bao gồm Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Khánh Hòa và Lâm Đồng.
- Khái niệm Luật sư công: Là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, hoặc người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước thuộc các cơ quan thí điểm nêu trên, được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các công việc pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị và doanh nghiệp nhà nước.
- Khu vực nhà nước: Được định nghĩa là các cơ quan, tổ chức trực thuộc các Bộ và địa phương thí điểm, bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang, tổ chức do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động và các doanh nghiệp nhà nước.
Để bảo đảm tính tôn nghiêm của pháp luật và đạo đức công vụ, hoạt động của luật sư công phải tuân thủ các nguyên tắc và giới hạn nghiêm ngặt:
- Nguyên tắc hoạt động: Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; tuân thủ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam kết hợp với chuẩn mực đạo đức công vụ, đạo đức của lực lượng vũ trang; hoạt động độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan; chịu trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm trước cơ quan sử dụng về kết quả hoạt động của mình.
- Các hành vi nghiêm cấm đối với luật sư công: Cấm cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài khu vực nhà nước; cấm tiết lộ thông tin vụ việc khi chưa được phép; cấm móc nối, thông đồng làm trái pháp luật gây hại cho lợi ích Nhà nước; cấm lợi dụng danh nghĩa luật sư công để trục lợi cá nhân; cấm các hành vi vi phạm khác theo Luật Luật sư và pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức.
- Nghiêm cấm hành vi cản trở: Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân không được phép có hành vi cản trở hoạt động nghề nghiệp hợp pháp của luật sư công.
Nghị quyết đặt ra yêu cầu rất cao về cả năng lực chuyên môn lẫn phẩm chất chính trị đối với đội ngũ luật sư công:
- Tiêu chuẩn tuyển chọn: Phải là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan hoặc người lao động trong doanh nghiệp nhà nước; có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức liêm chính; đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn luật sư theo Luật Luật sư; đặc biệt phải có tối thiểu 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật, tranh tụng, tư vấn hoặc giải quyết các vụ việc pháp lý phức tạp.
- Thủ tục cấp Chứng chỉ: Trên cơ sở nhu cầu thực tế, cơ quan thí điểm gửi văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp hoặc cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư cho người đủ điều kiện.
- Trường hợp không được cấp: Người không đủ tiêu chuẩn; người đang giữ các chức danh tư pháp như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm tra viên ngành Tòa án, Kiểm tra viên ngành Kiểm sát, Chấp hành viên; người không thường trú tại Việt Nam.
- Trường hợp bị thu hồi Chứng chỉ: Vi phạm tiêu chuẩn hoặc thuộc diện không được cấp; thôi làm luật sư công theo nguyện vọng hoặc theo đề nghị của cơ quan quản lý; tự ý cung cấp dịch vụ pháp lý ra ngoài khu vực nhà nước; hết thời hạn thí điểm mà Quốc hội quyết định không tiếp tục thực hiện chế định này (trừ trường hợp chuyển tiếp giải quyết nốt vụ việc).
Luật sư công có vai trò kép, vừa là người thực thi công vụ vừa là người hoạt động nghề nghiệp luật sư chuyên nghiệp:
- Phạm vi công việc: Thực hiện tư vấn, đại diện, tham gia tố tụng và giải quyết các tranh chấp trong nước và quốc tế (về đầu tư, thương mại, công pháp/tư pháp quốc tế, hành chính, dân sự); tham gia thi hành án; tư vấn xây dựng và triển khai dự án kinh tế - xã hội; tư vấn giải quyết khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài.
- Giới hạn phạm vi: Không bao gồm hoạt động trợ giúp pháp lý theo Luật Trợ giúp pháp lý và không trùng lặp với hoạt động của bộ phận pháp chế thông thường tại cơ quan, tổ chức.
- Quyền lợi đặc thù: Được hưởng đầy đủ quyền của cán bộ, công chức, viên chức hoặc sĩ quan; được phối hợp với luật sư khác để bảo vệ lợi ích Nhà nước; được yêu cầu các cơ quan cung cấp, sao chép tài liệu, chứng cứ; có đầy đủ quyền tố tụng của luật sư; được bảo lưu ý kiến và từ chối chỉ đạo trái luật; được miễn trừ trách nhiệm nếu đã làm đúng quy trình nhưng xảy ra thiệt hại do rủi ro khách quan; được khen thưởng khi có thành tích xuất sắc.
- Nghĩa vụ bắt buộc: Chấp hành sự phân công của cơ quan sử dụng; tham gia bồi dưỡng chuyên môn; gia nhập tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và sử dụng Thẻ luật sư; giữ bí mật thông tin tuyệt đối; trung thực, khách quan và chỉ hoạt động trong phạm vi khu vực nhà nước.
Nghị quyết tối ưu hóa nguồn lực luật sư công thông qua cơ chế linh hoạt và hỗ trợ từ bên ngoài:
- Sử dụng và điều động: Các cơ quan có nhu cầu sẽ cử luật sư công của mình thực hiện nhiệm vụ. Trường hợp cơ quan thí điểm khác có nhu cầu nhưng thiếu nhân lực, có thể gửi văn bản đề nghị cơ quan có luật sư công cử hỗ trợ hoặc nhờ cơ quan quản lý nhà nước giới thiệu. Người đứng đầu cơ quan được đề nghị có quyền đồng ý hoặc từ chối.
- Hợp tác với tổ chức hành nghề luật sư bên ngoài: Đối với các vụ việc có tính chất đặc biệt phức tạp vượt quá khả năng đáp ứng của đội ngũ luật sư công hiện tại, cơ quan thí điểm được phép lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với các tổ chức hành nghề luật sư bên ngoài theo quy trình đấu thầu đặc biệt để phối hợp giải quyết.
Để thu hút và giữ chân nhân tài, Nhà nước áp dụng các chính sách tài chính và hỗ trợ đặc biệt cho luật sư công:
- Hỗ trợ hàng tháng: Ngoài lương cơ bản, luật sư công được hưởng hỗ trợ hằng tháng và các chế độ tương tự như cán bộ làm công tác xây dựng pháp luật, pháp chế theo Nghị quyết số 197/2025/QH15. Nếu thuộc diện hưởng nhiều mức hỗ trợ thì áp dụng mức cao nhất.
- Bồi dưỡng theo vụ việc: Khi trực tiếp tham gia giải quyết vụ việc pháp lý, luật sư công được hưởng bồi dưỡng với mức chi bằng 0,5 lần mức lương cơ sở cho mỗi buổi làm việc.
- Ưu đãi thuế và bảo hiểm: Các khoản hỗ trợ hằng tháng và bồi dưỡng theo vụ việc không dùng để tính đóng hay hưởng bảo hiểm xã hội. Toàn bộ thu nhập từ hoạt động luật sư công theo Nghị quyết này được miễn thuế thu nhập cá nhân và các nghĩa vụ tài chính liên quan đối với Nhà nước.
- Hỗ trợ chi phí nghề nghiệp: Nhà nước chi trả toàn bộ phí gia nhập và phí duy trì tư cách thành viên Đoàn luật sư, đồng thời bảo đảm đầy đủ trang thiết bị, phương tiện làm việc cần thiết.
Nghị quyết quy định rõ lộ trình triển khai, cơ chế giám sát và điều khoản chuyển tiếp nhằm bảo đảm tính liên tục của hoạt động pháp lý:
- Thu hút nhân tài: Các cơ quan thí điểm được áp dụng chính sách trọng dụng nhân tài để tuyển dụng trực tiếp các luật sư, chuyên gia, nhà khoa học, luật gia giàu kinh nghiệm vào làm luật sư công.
- Trách nhiệm của Chính phủ: Ban hành chính sách chi tiết, hướng dẫn, tổ chức triển khai và tổng kết việc thực hiện thí điểm.
- Giám sát thực hiện: Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và Mặt trận Quốc việc Nam chịu trách nhiệm giám sát quá trình thực hiện thí điểm.
- Hiệu lực thi hành và chuyển tiếp: Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/10/2026 đến hết ngày 30/09/2028. Đối với các vụ việc đang giải quyết dở dang khi Nghị quyết hết hiệu lực, luật sư công được tiếp tục thực hiện cho đến khi kết thúc vụ việc và vẫn được hưởng đầy đủ các quyền, nghĩa vụ, chế độ chính sách theo Nghị quyết này. Trường hợp có sự khác nhau giữa Nghị quyết này và các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ưu tiên áp dụng quy định của Nghị quyết này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Nghị quyết số: 24/2026/QH16 | Hà Nội, ngày 24 tháng 4 năm 2026 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ VIỆC THÍ ĐIỂM THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH LUẬT SƯ CÔNG
QUỐC HỘI
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 203/2025/QH15;
Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14 và Luật số 62/2025/QH15;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 87/2025/QH15;
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Phạm vi điều chỉnh, phạm vi thí điểm
1. Nghị quyết này quy định thí điểm thực hiện chế định luật sư công, gồm nguyên tắc hoạt động, tiêu chuẩn, phạm vi công việc, quyền và nghĩa vụ, việc sử dụng luật sư công và chế độ, chính sách đối với luật sư công.
2. Việc thí điểm chế định luật sư công được tổ chức và thực hiện tại Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Xây dựng; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ, Đồng Nai, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Khánh Hòa và Lâm Đồng.
Điều 2. Giải thích từ ngữ
Trong Nghị quyết này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Luật sư công là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước mà đại diện chủ sở hữu là cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư để thực hiện các công việc có tính chất pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan nhà nước, cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị, doanh nghiệp nhà nước theo quy định của Nghị quyết này và quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Khu vực nhà nước là các cơ quan, tổ chức trực thuộc Bộ, địa phương quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này, bao gồm: các cơ quan nhà nước; đơn vị lực lượng vũ trang; tổ chức do Nhà nước thành lập, đầu tư cơ sở vật chất, cấp toàn bộ hoặc một phần kinh phí hoạt động và doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Điều 3. Nguyên tắc hoạt động của luật sư công
1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.
2. Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân.
3. Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan.
4. Chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước cơ quan, tổ chức sử dụng luật sư công về hoạt động nghề nghiệp của mình.
Điều 4. Các hành vi bị nghiêm cấm
1. Nghiêm cấm luật sư công thực hiện các hành vi sau đây:
a) Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài khu vực nhà nước;
b) Tiết lộ thông tin liên quan đến vụ, việc hoặc công việc có tính chất pháp lý khác được giao khi không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền;
c) Móc nối, giao dịch với người khác để làm trái quy định của pháp luật trong giải quyết vụ, việc, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của Nhà nước;
d) Lợi dụng công việc, danh nghĩa luật sư công để trục lợi;
đ) Các hành vi bị nghiêm cấm khác theo quy định của Luật Luật sư, pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, doanh nghiệp.
2. Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt động của luật sư công.
Điều 5. Tiêu chuẩn của luật sư công
1. Người muốn trở thành luật sư công phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau đây:
a) Là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước;
b) Có tư tưởng chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, liêm chính;
c) Có đủ tiêu chuẩn luật sư theo quy định của Luật Luật sư;
d) Có ít nhất 05 năm kinh nghiệm làm việc thường xuyên, trực tiếp trong lĩnh vực pháp luật hoặc kinh nghiệm tranh tụng, tư vấn pháp luật hoặc giải quyết vụ, việc pháp lý phức tạp theo quy định của Chính phủ.
2. Chính phủ quy định việc tập sự hành nghề luật sư, kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư và các tiêu chuẩn của luật sư công phù hợp với vị trí việc làm của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước.
Điều 6. Cấp, cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư cho luật sư công
1. Căn cứ vào nhu cầu thực tế sử dụng luật sư công, cơ quan thực hiện thí điểm quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này có văn bản đề nghị Bộ trưởng Bộ Tư pháp cấp, cấp lại Chứng chỉ hành nghề luật sư cho người đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này làm việc tại cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý.
2. Người thuộc một trong những trường hợp sau đây thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư:
a) Không đủ tiêu chuẩn của luật sư công theo quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này;
b) Người đang là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, thẩm tra viên ngành Tòa án, kiểm tra viên ngành Kiểm sát, chấp hành viên;
c) Không thường trú tại Việt Nam;
d) Các trường hợp khác theo quy định của Luật Luật sư và không trái với Nghị quyết này.
3. Luật sư công bị thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này;
b) Thôi làm luật sư công theo nguyện vọng hoặc theo đề nghị của cơ quan thực hiện thí điểm quản lý luật sư công;
c) Cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng ngoài khu vực nhà nước;
d) Các trường hợp khác theo quy định của Luật Luật sư và không trái với Nghị quyết này;
đ) Hết thời gian thí điểm thực hiện chế định luật sư công theo Nghị quyết này mà Quốc hội quyết định không tiếp tục thực hiện chế định luật sư công, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 của Nghị quyết này.
4. Chính phủ quy định thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư của luật sư công.
Điều 7. Phạm vi công việc của luật sư công
1. Luật sư công thực hiện các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước thuộc các cơ quan thực hiện thí điểm quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này, bao gồm:
a) Tư vấn, đại diện, tham gia tố tụng, giải quyết các vụ kiện, tranh chấp trong nước và quốc tế về đầu tư, thương mại, công pháp quốc tế, tư pháp quốc tế, hành chính, dân sự và tham gia quá trình thi hành án dân sự, hành chính theo quy định của pháp luật;
b) Tư vấn pháp lý trong quá trình xây dựng, triển khai các dự án kinh tế - xã hội;
c) Tư vấn và tham gia giải quyết các vụ, việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài;
d) Các công việc có tính chất pháp lý khác.
2. Phạm vi công việc của luật sư công không bao gồm hoạt động trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý và không trùng lặp với hoạt động của pháp chế của cơ quan, tổ chức.
3. Luật sư công thực hiện công việc quy định tại khoản 1 Điều này và các nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.
Thủ trưởng cơ quan, tổ chức sử dụng cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước là luật sư công có trách nhiệm bố trí, phân công công việc bảo đảm để luật sư công hoàn thành công việc quy định tại khoản 1 Điều này và nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước.
Điều 8. Quyền và nghĩa vụ của luật sư công
1. Luật sư công có các quyền sau đây:
a) Có quyền của cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước; được hưởng lương, chế độ đặc thù và các quyền của luật sư công theo quy định của Nghị quyết này, Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam và quy định khác của pháp luật có liên quan mà không trái Nghị quyết này;
b) Phối hợp với luật sư khác để tham gia tố tụng hoặc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của Nhà nước theo sự phân công của cơ quan, tổ chức sử dụng luật sư công;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cho sao chép, cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ, việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân đó đang lưu giữ, quản lý để phục vụ cho công việc của luật sư công theo quy định của pháp luật;
d) Khi tham gia tố tụng và giải quyết các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước, luật sư công có các quyền của luật sư theo quy định của pháp luật;
đ) Được bảo lưu ý kiến và từ chối thực hiện chỉ đạo trái pháp luật;
e) Được miễn trừ trách nhiệm trong trường hợp đã thực hiện đầy đủ các quy trình, quy định liên quan, không tư lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng vẫn xảy ra thiệt hại do rủi ro khách quan;
g) Được khen thưởng khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước hoặc có thành tích trong hoạt động nghề nghiệp;
h) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
2. Luật sư công có các nghĩa vụ sau đây:
a) Tuân thủ quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan Quân đội nhân dân, sĩ quan Công an nhân dân, doanh nghiệp, Luật Luật sư, Điều lệ Liên đoàn luật sư Việt Nam, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam và quy định khác của pháp luật có liên quan mà không trái Nghị quyết này;
b) Tham gia bồi dưỡng về luật sư công theo quy định của Chính phủ;
c) Tham gia tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư và được cấp Thẻ luật sư theo quy định;
d) Chấp hành việc bố trí, phân công thực hiện các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước của cơ quan, tổ chức sử dụng luật sư công;
đ) Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
e) Trung thực, khách quan khi bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước;
g) Chỉ được thực hiện các công việc có tính chất pháp lý tại khu vực nhà nước;
h) Giữ bí mật thông tin, tài liệu liên quan đến vụ, việc hoặc công việc có tính chất pháp lý khác được giao;
i) Báo cáo với cơ quan, tổ chức sử dụng luật sư công về tình hình xử lý vụ, việc do mình trực tiếp thực hiện;
k) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều 9. Việc sử dụng luật sư công tại khu vực nhà nước
1. Cơ quan, tổ chức có nhu cầu sử dụng luật sư công để thực hiện các công việc theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Nghị quyết này cử luật sư công làm việc tại cơ quan, tổ chức mình để bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước.
Cơ quan, tổ chức trong phạm vi thí điểm theo Nghị quyết này có nhu cầu sử dụng luật sư công của cơ quan, tổ chức khác thì có văn bản đề nghị cơ quan, tổ chức có luật sư công cử hoặc đề nghị cơ quan quản lý nhà nước về luật sư công giới thiệu để cử luật sư công; người đứng đầu cơ quan, tổ chức được đề nghị cử luật sư công có quyền cử hoặc từ chối cử luật sư công.
2. Trường hợp phát sinh vụ, việc có tính chất pháp lý phức tạp mà đội ngũ luật sư công chưa đáp ứng được thì cơ quan thực hiện thí điểm có vụ, việc đó lựa chọn và ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với tổ chức hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật đấu thầu về lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt để cùng luật sư công giải quyết vụ, việc đó.
3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.
Điều 10. Chế độ, chính sách đối với luật sư công
1. Ngoài chế độ tiền lương theo quy định của pháp luật, luật sư công được hưởng hỗ trợ hằng tháng và các chế độ, chính sách khác tương tự như đối với cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan thuộc lực lượng vũ trang có vị trí việc làm xây dựng pháp luật, pháp chế theo quy định của Nghị quyết số 197/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Trường hợp luật sư công được hưởng đồng thời nhiều chính sách hỗ trợ hằng tháng thì chỉ được hưởng chính sách hỗ trợ cao nhất.
2. Luật sư công khi tham gia giải quyết vụ, việc có tính chất pháp lý được hưởng bồi dưỡng theo vụ, việc. Mức chi bồi dưỡng trả cho 01 buổi làm việc là 0,5 lần mức lương cơ sở.
3. Khoản hỗ trợ hằng tháng và bồi dưỡng theo vụ, việc quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này không dùng để tính đóng, hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Thu nhập từ công việc của luật sư công theo quy định tại Nghị quyết này được miễn thuế thu nhập cá nhân và các nghĩa vụ tài chính khác đối với Nhà nước.
4. Luật sư công được Nhà nước chi trả các khoản phí liên quan đến gia nhập, duy trì tư cách thành viên của tổ chức xã hội - nghề nghiệp của luật sư, được bảo đảm trang thiết bị, phương tiện làm việc để thực hiện nhiệm vụ được giao.
5. Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng khoản 1 Điều này đối với luật sư công là người làm việc trong doanh nghiệp nhà nước; quy định chi tiết về chế độ, chính sách, kinh phí bảo đảm cho hoạt động của luật sư công.
Điều 11. Tổ chức thực hiện
1. Căn cứ vào nhu cầu thực tế sử dụng luật sư công, cơ quan quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này áp dụng quy định của pháp luật về thu hút, trọng dụng nhân tài, người có tài năng để tuyển dụng luật sư, chuyên gia, nhà khoa học, luật gia có kinh nghiệm vào làm việc tại cơ quan mình theo vị trí việc làm và thực hiện nhiệm vụ luật sư công.
2. Chính phủ ban hành theo thẩm quyền chính sách, pháp luật để thực hiện Nghị quyết này; chỉ đạo các Bộ, ngành, địa phương có liên quan, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, hướng dẫn, tổ chức triển khai và tổng kết việc thực hiện Nghị quyết này.
3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
Điều 12. Điều khoản thi hành
1. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 2026 và được thực hiện đến hết ngày 30 tháng 9 năm 2028.
2. Kể từ ngày Nghị quyết này hết hiệu lực thi hành mà vụ, việc do luật sư công đang thực hiện chưa kết thúc thì được tiếp tục thực hiện cho đến khi kết thúc vụ, việc đó. Khi thực hiện vụ, việc, luật sư công có các quyền, nghĩa vụ và được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của Nghị quyết này.
3. Trường hợp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề giữa Nghị quyết này với văn bản quy phạm pháp luật khác thì áp dụng quy định của Nghị quyết này.
Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XVI, Kỳ họp thứ Nhất thông qua ngày 24 tháng 4 năm 2026.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Luật Luật sư 2006
- 2Công văn 9264/VPCP-TCCV thông báo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng về huy động luật sư và cán bộ Tổ công tác 30 các bộ, ngành tham gia rà soát thủ tục hành chính do Văn phòng Chính phủ ban hành
- 3Hiến pháp 2013
- 4Luật Tổ chức Quốc hội 2014
- 5Luật Trợ giúp pháp lý 2017
- 6Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi 2020
- 7Quyết định 856/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Điều lệ Liên đoàn Luật sư Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 8Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2025
- 9Luật Tổ chức Quốc hội sửa đổi 2025
- 10Nghị quyết 203/2025/QH15 sửa đổi Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Quốc hội ban hành
- 11Nghị quyết 197/2025/QH15 về cơ chế, chính sách đặc biệt tạo đột phá trong xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật do Quốc hội ban hành
- 12Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi 2025
Nghị quyết 24/2026/QH16 thí điểm thực hiện chế định luật sư công do Quốc hội ban hành
- Số hiệu: 24/2026/QH16
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 24/04/2026
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Trần Thanh Mẫn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/10/2026
- Ngày hết hiệu lực: 01/10/2028
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
