Nghị quyết số 123/2018/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa IX được thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 06 tháng 7 năm 2018. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm ghi nhận các kết quả, giải pháp chất vấn và trả lời chất vấn, đồng thời chỉ đạo Ủy ban nhân dân tỉnh cùng các sở, ngành tập trung giải quyết các vấn đề dân sinh, môi trường, hạ tầng và an ninh trật tự bức thiết trên địa bàn tỉnh.
Thông tin chung về văn bản:
- Tên nghị quyết: Nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa IX.
- Số hiệu: 123/2018/NQ-HĐND.
- Cơ quan ban hành: Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Ngày thông qua: 06/07/2018.
- Ngày có hiệu lực: 16/07/2018.
- Người ký: Chủ tịch Nguyễn Phú Cường.
Nội dung trọng tâm và các giải pháp khắc phục hạn chế:
Nghị quyết đề ra các nhóm giải pháp cụ thể đối với 5 lĩnh vực trọng điểm được cử tri và đại biểu quan tâm chất vấn:
1. Công tác triển khai tổ chức điều trị Methadone:
- Tích cực triển khai các cơ sở điều trị Methadone tại hai huyện Xuân Lộc và Cẩm Mỹ.
- Chuẩn bị đầy đủ, đồng bộ các điều kiện về cơ sở vật chất và năng lực chuyên môn để đảm bảo các cơ sở này hoàn thành, chính thức đi vào hoạt động ngay trong năm 2018.
- Tăng cường công tác quản lý, hỗ trợ toàn diện cho các đối tượng tham gia điều trị nhằm giúp họ ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng, ngăn ngừa tối đa tình trạng mất an ninh trật tự tại địa phương.
2. Đảm bảo vệ sinh môi trường tại Khu công nghiệp (KCN) Dầu Giây:
- Giám sát nguồn thải: Đẩy nhanh tiến độ lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải tại KCN Dầu Giây để giám sát liên tục chất lượng nước thải sau xử lý. Kết hợp thực hiện quan trắc định kỳ nhằm đảm bảo toàn bộ nước thải đạt quy chuẩn môi trường trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.
- Xử lý hạ tầng kỹ thuật: Giải quyết dứt điểm tình trạng nước thải rò rỉ, lẫn vào tuyến thoát nước mưa. Kiểm tra chặt chẽ việc đấu nối và xử lý nước thải của từng doanh nghiệp thứ cấp trong KCN.
- Lắp đặt thiết bị đo lưu lượng: Yêu cầu KCN Dầu Giây lắp đặt thiết bị đo lưu lượng nước thải tại đầu vào hệ thống xử lý tập trung và tại điểm xả thải ra tuyến nhánh suối Bí.
- Chống ngập úng và vệ sinh: Rà soát, xây dựng hoàn chỉnh các tuyến thoát nước ngoài hàng rào KCN để tiêu thoát nước đúng quy định, giải quyết triệt để tình trạng ngập úng. Đôn đốc doanh nghiệp thực hiện vệ sinh công nghiệp tại khu vực bốc dỡ hàng hóa và nạo vét định kỳ các hố ga nước mưa, nước thải.
- Tuyên truyền cộng đồng: Chỉ đạo UBND huyện Thống Nhất vận động người dân lân cận và các hộ chăn nuôi nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, không xả chất thải chưa xử lý xuống sông, suối, kênh mương và hệ thống cống thoát nước trên địa bàn.
3. Phát triển lưới điện nông thôn và bàn giao công trình điện:
- Hạ thế trạm biến áp: Chỉ đạo các địa phương khẩn trương tập trung các giải pháp để triển khai hạ thế đối với 118 trạm biến áp chưa được đầu tư lưới điện hạ thế, hoàn thành chậm nhất vào Quý I năm 2019.
- Bàn giao tài sản điện: Tổ chức rà soát 692 công trình điện trên địa bàn tỉnh hiện chưa bàn giao cho ngành điện. Lập danh mục, hoàn thiện hồ sơ đối với các công trình đầu tư bằng vốn nhà nước để điều chuyển sang Tập đoàn Điện lực Việt Nam (đơn vị tiếp nhận trực tiếp là Điện lực Đồng Nai) quản lý theo Quyết định số 41/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hoàn thành chậm nhất vào năm 2020.
4. Đẩy mạnh xây dựng và quản lý nhà ở xã hội:
- Rà soát và điều chỉnh quy hoạch: Đánh giá nhu cầu thực tế về nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh để điều chỉnh phù hợp với mục tiêu tại Nghị quyết số 117/2014/NQ-HĐND về chương trình phát triển nhà ở giai đoạn 2016 - 2020. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của người dân.
- Xử lý dự án chậm tiến độ: Tiến hành thanh tra, kiểm tra và kiên quyết thu hồi các dự án nhà ở xã hội mà chủ đầu tư không đủ năng lực triển khai để giao lại cho các nhà đầu tư khác có năng lực.
- Hỗ trợ tài chính: Áp dụng các giải pháp hỗ trợ chủ đầu tư và người mua nhà tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật.
- Kiểm soát đối tượng thụ hưởng: Thực hiện nghiêm ngặt quy trình, thủ tục xét duyệt đối tượng mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, kiên quyết không để xảy ra tình trạng đầu cơ hoặc thương mại hóa sai mục đích.
5. Đảm bảo an ninh trật tự và phòng chống tội phạm:
- Tuyên truyền pháp luật: Đẩy mạnh giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống lành mạnh cho Nhân dân, đặc biệt hướng tới đối tượng công nhân, học sinh, sinh viên, đoàn viên thanh niên và người chưa thành niên. Phát động phong trào quần chúng tố giác tội phạm và cảm hóa đối tượng lầm lỗi tại cộng đồng.
- Trấn áp tội phạm: Tổ chức các đợt cao điểm tấn công, triệt phá các băng nhóm tội phạm nhằm hạn chế tối đa nguyên nhân phát sinh tội phạm. Tăng cường tuần tra kiểm soát công cộng để kịp thời ngăn chặn hành vi gây rối trật tự.
- Quản lý cư trú và ngành nghề kinh doanh có điều kiện: Siết chặt quản lý tạm trú, vũ khí, vật liệu nổ, các cơ sở kinh doanh dịch vụ internet, nhà trọ, vũ trường, quán bar, trò chơi điện tử nhằm phòng ngừa tội phạm lợi dụng hoạt động.
Quy định về tổ chức thực hiện và giám sát:
- Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai: Chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện toàn diện các nội dung của Nghị quyết và báo cáo tiến độ cụ thể tại các kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân tỉnh.
- Cơ quan giám sát của Hội đồng nhân dân: Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban, các Tổ đại biểu và cá nhân các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có trách nhiệm giám sát chặt chẽ quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết theo đúng quy định pháp luật.
- Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh: Phối hợp cùng các tổ chức thành viên thực hiện giám sát, vận động Nhân dân tham gia giám sát, đồng thời kịp thời tổng hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng và kiến nghị của cử tri đến các cơ quan có thẩm quyền.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 123/2018/NQ-HĐND | Đồng Nai, ngày 06 tháng 7 năm 2018 |
NGHỊ QUYẾT
VỀ CHẤT VẤN VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN TẠI KỲ HỌP THỨ 6 HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI KHÓA IX
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
KHÓA IX - KỲ HỌP THỨ 6
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015;
Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày 20 tháng 11 năm 2015;
Trên cơ sở kết quả chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa IX.
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Hội đồng nhân dân tỉnh ghi nhận những kết quả và giải pháp của Ủy ban nhân dân tỉnh và các sở, ngành trong việc trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân tỉnh. Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm khắc phục những khó khăn, hạn chế, thực hiện có hiệu quả các nội dung sau:
1. Về triển khai tổ chức điều trị Methadone
Tích cực triển khai các cơ sở điều trị Methadone tại huyện Xuân Lộc và Cẩm Mỹ, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về vật chất, chuyên môn đảm bảo hoàn thành và đi vào hoạt động trong năm 2018; tăng cường công tác quản lý, hỗ trợ các đối tượng được điều trị nhằm ổn định cuộc sống, không để xảy ra mất an ninh trật tự tại địa phương.
2. Việc đảm bảo môi trường Khu công nghiệp Dầu Giây
a) Đẩy nhanh tiến độ lắp đặt trạm quan trắc tự động nước thải tại Khu công nghiệp Dầu Giây để giám sát chất lượng nước thải sau xử lý, kết hợp với quan trắc định kỳ tại Khu công nghiệp đảm bảo nước thải được xử lý đạt quy chuẩn môi trường trước khi thải ra nguồn tiếp nhận.
b) Xử lý dứt điểm tình trạng nước thải lẫn vào tuyến thoát nước mưa. Tăng cường kiểm tra, theo dõi tình hình đấu nối, xử lý nước thải của các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp Dầu Giây. Chỉ đạo Khu công nghiệp Dầu Giây thực hiện lắp đặt thiết bị đo lưu lượng nước thải tại đầu vào hệ thống xử lý nước thải tập trung và tại điểm xả thải ra tuyến nhánh suối Bí. Rà soát, triển khai xây dựng hoàn chỉnh các tuyến thoát nước bên ngoài hàng rào Khu công nghiệp Dầu Giây để thực hiện thoát nước theo đúng quy định, giải quyết tình trạng ngập úng.
c) Tăng cường kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp trong Khu công nghiệp thực hiện vệ sinh công nghiệp tại khu vực bốc dỡ nguyên liệu và sản phẩm; nạo vét thường xuyên các hố ga nước mưa, nước thải.
d) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân huyện Thống Nhất tuyên truyền vận động Nhân dân sống tại khu vực lân cận Khu công nghiệp Dầu Giây và những khu vực có nguồn thải chăn nuôi xuống sông suối nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, không xả thải ô nhiễm môi trường ra sông suối, kênh mương và các cống thoát nước trên địa bàn.
3. Về lưới điện nông thôn
a) Chỉ đạo các địa phương khẩn trương tập trung các giải pháp để triển khai hạ thế đối với 118 trạm biến áp chưa được đầu tư lưới điện hạ thế chậm nhất vào Quý I năm 2019.
b) Tổ chức rà soát 692 công trình điện trên địa bàn tỉnh hiện chưa bàn giao ngành điện; trên cơ sở đó lập danh mục và hoàn tất hồ sơ đối với các công trình điện được đầu tư bằng vốn nhà nước bàn giao cho ngành điện theo Quyết định số 41/2017/QĐ-TTg ngày 19/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về quy định trình tự, thủ tục điều chuyển công trình điện được đầu tư bằng nguồn vốn nhà nước sang Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý (Điện lực Đồng Nai là đơn vị tiếp nhận), hoàn thành chậm nhất vào năm 2020.
4. Về xây dựng nhà ở xã hội
a) Triển khai rà soát nhu cầu nhà ở trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở đó tổ chức đánh giá kết quả thực hiện và xem xét điều chỉnh cho phù hợp với mục tiêu xây dựng nhà ở xã hội theo Nghị quyết số 117/2014/NQ-HĐND ngày 11/7/2014 về chương trình phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh Đồng Nai trong giai đoạn 2016 - 2020. Tập trung thực hiện các giải pháp đẩy nhanh tiến độ xây dựng nhà ở xã hội đáp ứng nhu cầu nhà ở của người dân trên địa bàn tỉnh. Kiểm tra, rà soát các dự án nhà ở xã hội mà chủ đầu tư không đủ năng lực thực hiện để thu hồi và giao cho nhà đầu tư khác đủ năng lực. Thực hiện các giải pháp để hỗ trợ cho các chủ đầu tư và người mua nhà ở xã hội vay ưu đãi từ các nguồn vốn nhà nước theo quy định.
b) Thực hiện nghiêm các quy định về tiêu chí và trình tự, thủ tục, mua, thuê, thuê mua nhà ở xã hội, đảm bảo đúng đối tượng thụ hưởng theo quy định, không để xảy ra tình trạng đầu cơ, thương mại hóa nhà ở xã hội.
5. Về an ninh trật tự
a) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, đạo đức, lối sống lành mạnh trong Nhân dân; trong đó chú trọng vào đối tượng công nhân, học sinh, sinh viên, đoàn viên thanh niên, người chưa thành niên. Tổ chức phát động các phong trào quần chúng nhân dân tham gia phát hiện, tố giác tội phạm, cảm hóa giáo dục, cải tạo các đối tượng hình sự. Thường xuyên duy trì, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến trong công tác phòng, chống tội phạm, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, khu dân cư.
b) Tổ chức tấn công trấn áp các băng nhóm nhằm hạn chế thấp nhất nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm. Thường xuyên tuần tra, kiểm soát để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý đối với các trường hợp gây rối trật tự công cộng.
c) Tăng cường công tác quản lý cư trú, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự, đặc biệt là việc quản lý tạm trú, quản lý vũ khí, vật liệu nổ, dịch vụ internet, nhà trọ, vũ trường, quán bar, kinh doanh trò chơi điện tử nhằm phát hiện kịp thời các vi phạm không để các đối tượng có điều kiện lợi dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Ủy ban nhân dân tỉnh có trách nhiệm tổ chức thực hiện nghị quyết và báo cáo tiến độ thực hiện tại các kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân tỉnh.
2. Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban Hội đồng nhân dân, các Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc triển khai, thực hiện Nghị quyết này theo luật định.
3. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên giám sát, vận động tổ chức và Nhân dân cùng tham gia giám sát việc thực hiện nghị quyết, phản ánh kịp thời tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân kiến nghị đến các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa IX, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 06 tháng 7 năm 2018 và có hiệu lực từ ngày 16 tháng 7 năm 2018./.
|
| CHỦ TỊCH |
- 1Nghị quyết 103/2017/NQ-HĐND về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai Khóa IX
- 2Nghị quyết 31/NQ-HĐND năm 2017 về giải trình, chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang khóa IX
- 3Nghị quyết 59/2017/NQ-HĐND về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận khóa X, nhiệm kỳ 2016-2021
- 4Nghị quyết 13/NQ-HĐND năm 2018 về giải trình, chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang khóa IX
- 5Nghị quyết 20/NQ-HĐND năm 2018 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ bảy Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang khóa XVII, nhiệm kỳ 2016-2021
- 6Nghị quyết 113/NQ-HĐND năm 2018 về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 8, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh khóa XIII
- 7Nghị quyết 167/2019/NQ-HĐND về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 10 Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa IX
- 1Nghị quyết 117/2014/NQ-HĐND điều chỉnh Nghị quyết 114/2008/NQ-HĐND về Chương trình phát triển nhà ở trên địa bàn tỉnh Đồng Nai đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
- 2Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015
- 3Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015
- 4Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015
- 5Quyết định 41/2017/QĐ-TTg quy định trình tự, thủ tục điều chuyển công trình điện được đầu tư bằng vốn nhà nước sang Tập đoàn Điện lực Việt Nam quản lý do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 6Nghị quyết 103/2017/NQ-HĐND về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai Khóa IX
- 7Nghị quyết 31/NQ-HĐND năm 2017 về giải trình, chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang khóa IX
- 8Nghị quyết 59/2017/NQ-HĐND về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận khóa X, nhiệm kỳ 2016-2021
- 9Nghị quyết 13/NQ-HĐND năm 2018 về giải trình, chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân tỉnh Tiền Giang khóa IX
- 10Nghị quyết 20/NQ-HĐND năm 2018 về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ bảy Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang khóa XVII, nhiệm kỳ 2016-2021
- 11Nghị quyết 113/NQ-HĐND năm 2018 về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 8, Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh khóa XIII
- 12Nghị quyết 167/2019/NQ-HĐND về chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 10 Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa IX
Nghị quyết 123/2018/NQ-HĐND về chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 6 Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai khóa IX
- Số hiệu: 123/2018/NQ-HĐND
- Loại văn bản: Nghị quyết
- Ngày ban hành: 06/07/2018
- Nơi ban hành: Tỉnh Đồng Nai
- Người ký: Nguyễn Phú Cường
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 16/07/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
