Nghị định 48/2007/NĐ-CP do Chính phủ ban hành quy định chi tiết về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng trên phạm vi cả nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng làm cơ sở để xác định giá trị quyền sử dụng rừng và quyền sở hữu rừng trồng trong các giao dịch hành chính, dân sự và thương mại liên quan đến tài nguyên rừng tại Việt Nam.
Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
- Phạm vi điều chỉnh: Nghị định này quy định nguyên tắc và phương pháp xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên (gọi chung là giá quyền sử dụng rừng); cùng với giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng (gọi chung là giá quyền sở hữu rừng trồng).
- Mục đích áp dụng giá rừng: Giá rừng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành được sử dụng làm căn cứ để: tính tiền sử dụng rừng khi giao rừng có thu tiền hoặc không thu tiền; tính tiền thuê rừng không thông qua đấu giá; tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi rừng; tính giá trị vốn góp bằng quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu rừng của Nhà nước tại doanh nghiệp; tính tiền bồi thường thiệt hại đối với hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng gây thiệt hại cho Nhà nước; và tính các loại thuế, phí, lệ phí theo quy định.
- Đối tượng áp dụng: Áp dụng đối với các cơ quan nhà nước, đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cũng như tổ chức và cá nhân nước ngoài có liên quan đến việc xác định và áp dụng giá các loại rừng tại Việt Nam.
Các khái niệm và thuật ngữ cốt lõi
Nghị định đưa ra các định nghĩa pháp lý rõ ràng nhằm thống nhất cách hiểu trong quá trình định giá:
- Giá quyền sử dụng rừng và giá quyền sở hữu rừng trồng: Là giá trị bằng tiền tính trên một héc ta (ha) mà chủ rừng được hưởng từ rừng trong khoảng thời gian được giao hoặc thuê rừng theo Quy chế quản lý và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành.
- Giá giao dịch thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường: Áp dụng cho cả hoạt động chuyển nhượng và cho thuê, là mức giá hình thành từ các giao dịch phổ biến trên thị trường giữa các bên trong điều kiện tự nguyện, không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bất thường như đầu cơ, ép buộc, thay đổi quy hoạch đột ngột hoặc quan hệ huyết thống.
- Thu nhập thuần túy từ rừng: Số tiền thu được từ khai thác lâm sản, kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học sau khi trừ đi chi phí đầu tư tạo rừng, thuế và các chi phí hợp lý khác.
- Tiền bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm: Bao gồm giá trị lâm sản (toàn bộ gỗ và lâm sản ngoài gỗ bị phá) và giá trị môi trường. Trong đó, giá trị môi trường được tính bằng thu nhập thuần túy của giá trị môi trường hàng năm chia cho lãi suất tiết kiệm trung bình, hoặc tính bằng giá trị lâm sản nhân với hệ số k (từ 2 đến 5 tùy loại rừng).
Nguyên tắc và căn cứ xác định giá các loại rừng
Việc xác định giá rừng phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc sau:
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, khách quan và khoa học.
- Sát với giá chuyển nhượng hoặc cho thuê thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; phải điều chỉnh kịp thời khi thị trường có biến động lớn.
- Căn cứ vào vị trí địa lý, trạng thái rừng, trữ lượng và chất lượng lâm sản tại thời điểm định giá.
- Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng rừng, chế độ quản lý sử dụng của từng loại rừng và các tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật do Nhà nước ban hành.
- Đảm bảo nguyên tắc các khu rừng cùng loại, cùng chức năng, tương đương về vị trí, trạng thái, trữ lượng và chất lượng lâm sản thì phải có cùng mức giá.
Phương pháp thu nhập trong định giá rừng
Đây là phương pháp chủ đạo dựa trên khả năng sinh lời của rừng trong tương lai:
- Khái niệm: Xác định giá trị rừng bằng cách quy các khoản thu nhập thuần túy thu được từ rừng trong tương lai về thời điểm định giá, sử dụng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm (VND) trung bình của các ngân hàng thương mại trên địa bàn ở thời điểm định giá.
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho tất cả các loại rừng (phòng hộ, đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên và rừng trồng) khi có đủ thông tin để xác định các khoản thu nhập thuần túy mang lại cho chủ rừng.
- Trình tự thực hiện: Khảo sát thông tin hiện trạng rừng; xác định các nguồn thu và chi phí từ hoạt động khai thác, kinh doanh cảnh quan, du lịch; tính toán thu nhập thuần túy cho các năm còn lại của chu kỳ sản xuất (đối với rừng trồng) hoặc thời hạn sử dụng rừng (đối với rừng tự nhiên, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng); xác định lãi suất tiền gửi áp dụng; và tính toán ra mức giá cụ thể.
Phương pháp chi phí trong định giá rừng
Phương pháp này tiếp cận dưới góc độ chi phí đầu tư tạo lập:
- Khái niệm: Xác định giá trị rừng dựa trên tổng các khoản chi phí hợp lý đã đầu tư để tạo rừng cộng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm (VND) cao nhất của ngân hàng thương mại trên địa bàn tại thời điểm định giá.
- Phạm vi áp dụng: Chỉ áp dụng để xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng trong trường hợp loại rừng cần định giá chưa phát sinh giao dịch trên thị trường.
- Trình tự thực hiện: Khảo sát hiện trạng rừng và các công trình hạ tầng bảo vệ, phát triển rừng; thu thập số liệu chi phí đầu tư thực tế từ lúc bắt đầu đến thời điểm định giá; xác định lãi suất tiền gửi áp dụng; tính toán phần lãi phát sinh tương ứng với thời gian đầu tư; và tổng hợp để xác định giá trị rừng trồng.
Phương pháp so sánh trong định giá rừng
Phương pháp này dựa trên các bằng chứng giao dịch thực tế trên thị trường:
- Khái niệm: Xác định giá trị rừng thông qua phân tích, so sánh mức giá của các diện tích rừng tương tự đã có giao dịch chuyển nhượng, cho thuê hoặc giao dịch với Nhà nước trên thị trường.
- Phạm vi áp dụng: Áp dụng cho tất cả các loại rừng khi có đầy đủ thông tin về các giao dịch so sánh được trên thị trường. Trường hợp có sự khác biệt nhỏ về các yếu tố tự nhiên hoặc hạ tầng, được phép sử dụng các hệ số điều chỉnh để quy đổi.
- Trình tự thực hiện: Khảo sát diện tích rừng cần định giá; thu thập thông tin về các diện tích rừng so sánh đã giao dịch thành công; phân tích, đối chiếu các tiêu chí tương đồng và khác biệt; thực hiện điều chỉnh các yếu tố khác biệt; và xác định mức giá cuối cùng.
Lựa chọn phương pháp định giá và điều chỉnh giá rừng
- Lựa chọn phương pháp: Cơ quan, tổ chức định giá căn cứ vào điều kiện thực tế và loại rừng cụ thể để chọn phương pháp phù hợp nhất, bảo đảm quyền lợi của chủ rừng và người làm nghề rừng. Có thể kết hợp nhiều phương pháp để đối chiếu, kiểm tra chéo kết quả khi quyết định mức giá cụ thể.
- Điều chỉnh giá rừng: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền quyết định điều chỉnh giá rừng khi: có sự điều chỉnh về quy hoạch, kế hoạch sử dụng rừng; hoặc khi giá giao dịch thực tế trên thị trường biến động tăng hoặc giảm trên 20% so với giá quy định hiện hành liên tục từ 6 tháng trở lên.
Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh: Có trách nhiệm giao cơ quan chuyên môn hoặc thuê tổ chức tư vấn định giá rừng; tổ chức thẩm định, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua trước khi công bố công khai; kiểm tra, giải quyết khiếu nại về giá rừng; theo dõi biến động thị trường; quy định cụ thể hệ số "k" để tính bồi thường thiệt hại; và bảo đảm kinh phí định giá từ ngân sách địa phương.
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định; đồng thời phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra, giám sát và giải quyết các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn áp dụng.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 48/2007/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 48/2007/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 28 tháng 03 năm 2007 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Bảo vệ và phát triển rừng ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Pháp lệnh Giá ngày 26 tháng 4 năm 2002;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
NGHỊ ĐỊNH :
Nghị định này quy định nguyên tắc và phương pháp xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên, (sau đây gọi chung là giá quyền sử dụng rừng); giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, (sau đây gọi là giá quyền sở hữu rừng trồng).
Giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sở hữu rừng trồng do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ban hành theo quy định tại Nghị định này làm căn cứ để:
1. Tính tiền sử dụng rừng khi Nhà nước giao rừng có thu tiền sử dụng rừng, giá trị quyền sử dụng rừng, giá trị quyền sở hữu rừng trồng khi Nhà nước giao rừng không thu tiền sử dụng rừng quy định tại Điều 24 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
2. Tính tiền thuê rừng khi Nhà nước cho thuê rừng không thông qua đấu giá quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồng quy định tại Điều 25 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
3. Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi rừng quy định tại Điều 26 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
4. Tính giá trị vốn góp bằng quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồng của Nhà nước tại doanh nghiệp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 35 Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004.
5. Tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng gây thiệt hại cho Nhà nước.
6. Tính các loại thuế, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật.
Nghị định này áp dụng đối với cơ quan nhà nước, đơn vị, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến việc xác định và áp dụng giá các loại rừng tại Việt Nam.
Trong Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Giá quyền sử dụng rừng là giá trị mà chủ rừng có thể được hưởng từ rừng trong khoảng thời gian được giao, được thuê rừng tính bằng tiền trên một héc ta (ha) rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên theo Quy chế quản lý và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành.
2. Giá quyền sở hữu rừng trồng là giá trị mà chủ rừng có thể được hưởng từ rừng trong khoảng thời gian được giao, được thuê rừng tính bằng tiền trên một héc ta (ha) rừng sản xuất là rừng trồng theo Quy chế quản lý và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành.
3. Giá chuyển nhượng quyền sở hữu rừng trồng, quyền sử dụng rừng sản xuất là rừng tự nhiên thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường là số tiền tính trên một héc ta rừng sản xuất là rừng trồng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên được hình thành từ kết quả giao dịch thực tế mang tính phổ biến trên thị trường giữa người chuyển nhượng và người được chuyển nhượng trong điều kiện không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tăng hoặc giảm giá do đầu cơ, thay đổi quy hoạch, chuyển nhượng trong tình trạng bị ép buộc, quan hệ huyết thống.
4. Giá cho thuê quyền sử dụng rừng thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường là số tiền tính trên một héc ta rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên được hình thành từ kết quả giao dịch thực tế mang tính phổ biến trên thị trường giữa người cho thuê và người thuê trong điều kiện không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tăng hoặc giảm giá do đầu cơ, thay đổi quy hoạch, cho thuê trong tình trạng bị ép buộc, quan hệ huyết thống.
5. Thu nhập thuần tuý từ rừng là số tiền mà chủ rừng thu được từ hoạt động khai thác lâm sản; kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học (nếu có) sau khi trừ chi phí đầu tư tạo rừng, thuế và các khoản chi phí hợp lý khác.
6. Tiền sử dụng rừng, tiền thuê rừng là số tiền mà chủ rừng phải trả để được sử dụng rừng vào mục đích khai thác lâm sản; kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học (nếu có) theo Quy chế quản lý và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành.
7. Tiền bồi thường cho chủ rừng khi Nhà nước thu hồi rừng là số tiền mà Nhà nước phải trả cho chủ rừng tương xứng với các khoản thu nhập chủ rừng có thể được hưởng từ rừng trong khoảng thời gian được giao, được thuê còn lại từ khai thác lâm sản; kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học (nếu có) theo Quy chế quản lý và sử dụng rừng do Nhà nước ban hành.
8. Tiền bồi thường thiệt hại đối với người có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại về rừng là số tiền mà người có hành vi vi phạm gây thiệt hại về rừng phải bồi thường cho Nhà nước, bao gồm giá trị về lâm sản và giá trị về môi trường của rừng bị thiệt hại.
a) Giá trị về lâm sản là giá trị của toàn bộ gỗ, lâm sản ngoài gỗ trên diện tích rừng bị phá;
b) Giá trị về môi trường là giá trị của rừng cung cấp môi trường hàng năm và được tính bằng thương số giữa thu nhập thuần tuý của giá trị môi trường hàng năm trên lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm của loại tiền VNĐ tại ngân hàng thương mại có mức lãi suất trung bình trên địa bàn ở thời điểm định giá hoặc được tính bằng giá trị của rừng về lâm sản nhân với hệ số k từ 2 đến 5 (tuỳ theo từng loại rừng).
Điều 5. Nguyên tắc và căn cứ xác định giá các loại rừng
1. Đảm bảo công khai, minh bạch, khách quan và khoa học.
2. Sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồng, giá cho thuê quyền sử dụng rừng thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường; khi giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sở hữu rừng trồng thực tế trên thị trường có biến động lớn thì phải điều chỉnh cho phù hợp.
3. Căn cứ vào vị trí khu rừng, trạng thái rừng; trữ lượng, chất lượng lâm sản tại thời điểm định giá.
4. Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng rừng; chế độ quản lý và sử dụng của từng loại rừng; tiêu chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật do Nhà nước ban hành.
5. Các khu rừng cùng loại, cùng chức năng, tương đương về vị trí khu rừng, có trạng thái rừng, trữ lượng, chất lượng lâm sản như nhau thì có cùng mức giá.
PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ CÁC LOẠI RỪNG
1. Phương pháp thu nhập là phương pháp xác định mức giá của một diện tích rừng cụ thể căn cứ vào thu nhập thuần tuý thu được từ rừng quy về thời điểm định giá với lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm của loại tiền VNĐ tại Ngân hàng Thương mại có mức lãi suất trung bình trên địa bàn ở thời điểm định giá.
2. Phương pháp thu nhập được áp dụng để xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên; giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Điều 7. Điều kiện áp dụng phương pháp thu nhập
Áp dụng phương pháp thu nhập khi có đủ thông tin để xác định được các khoản thu nhập thuần tuý mang lại cho chủ rừng từ diện tích rừng cần định giá.
Điều 8. Trình tự định giá bằng phương pháp thu nhập
1. Khảo sát, thu thập thông tin về diện tích rừng cần định giá gồm loại rừng theo mục đích sử dụng rừng, trạng thái rừng, trữ lượng rừng, chất lượng lâm sản và các quy định về quản lý và sử dụng rừng.
2. Xác định các nguồn thu và chi phí đối với hoạt động khai thác lâm sản; kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học (nếu có) trên diện tích rừng cần định giá.
3. Tính thu nhập thuần tuý trong các năm còn lại của chu kỳ sản xuất (đối với rừng sản xuất là rừng trồng); thu nhập thuần tuý trong các năm của thời hạn sử dụng rừng (đối với rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, rừng sản xuất là rừng tự nhiên) hoặc thu nhập thuần tuý hàng năm bình quân (nếu có) đối với rừng tự nhiên.
4. Xác định mức lãi suất tiền gửi theo quy định tại
5. Xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên; giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
1. Phương pháp chi phí là phương pháp xác định mức giá của một diện tích rừng cụ thể căn cứ vào các khoản chi phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng và lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn một năm của loại tiền VNĐ tại Ngân hàng Thương mại có mức lãi suất cao nhất trên địa bàn ở thời điểm định giá.
2. Phương pháp chi phí được áp dụng để xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng trong điều kiện loại rừng cần định giá chưa có giao dịch trên thị trường.
Điều 10. Điều kiện áp dụng phương pháp chi phí
Áp dụng phương pháp chi phí khi có đủ thông tin để xác định được các khoản chi phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng đối với diện tích rừng cần định giá tính từ thời điểm đầu tư đến thời điểm định giá.
Điều 11. Trình tự định giá bằng phương pháp chi phí
1. Khảo sát, thu thập thông tin về hiện trạng rừng, công trình kết cấu hạ tầng gắn liền với mục đích bảo vệ, phát triển rừng tại thời điểm định giá và các quy định về quản lý và sử dụng rừng.
2. Thu thập số liệu về chi phí hợp lý đã đầu tư tạo rừng tính từ thời điểm đầu tư đến thời điểm định giá.
3. Xác định mức lãi suất tiền gửi theo quy định tại
4. Xác định các khoản lãi tương ứng với tiền lãi gửi ngân hàng đối với khoản chi phí đầu tư trong khoảng thời gian từ thời điểm đầu tư đến thời điểm định giá.
5. Xác định giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
1. Phương pháp so sánh là phương pháp xác định mức giá của một diện tích rừng cụ thể thông qua việc phân tích các mức giá rừng thực tế đã chuyển nhượng quyền sở hữu rừng trồng, chuyển nhượng, cho thuê quyền sử dụng rừng trên thị trường hoặc giá giao dịch về quyền sở hữu rừng trồng, quyền sử dụng rừng (giữa Nhà nước và chủ rừng) của diện tích rừng cùng loại, tương tự về trạng thái rừng, trữ lượng rừng; chất lượng lâm sản để so sánh với diện tích rừng cần định giá.
2. Phương pháp so sánh được áp dụng để xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên; giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Điều 13. Điều kiện áp dụng phương pháp so sánh
1. Áp dụng phương pháp so sánh khi có đủ thông tin về diện tích rừng cùng loại đã chuyển nhượng, cho thuê trên thị trường hoặc giao dịch (giữa Nhà nước và chủ rừng) có thể so sánh được với diện tích rừng cần định giá.
2. Trong trường hợp diện tích rừng dùng để so sánh và diện tích rừng cần định giá có những yếu tố không đồng nhất thì có thể dùng các hệ số để điều chỉnh.
Điều 14. Trình tự định giá bằng phương pháp so sánh
1. Khảo sát và thu thập thông tin về diện tích rừng cần định giá gồm loại rừng theo mục đích sử dụng rừng, vị trí rừng, trạng thái rừng, trữ lượng, chất lượng lâm sản và công trình kết cấu hạ tầng gắn liền với mục đích bảo vệ, phát triển rừng tại thời điểm định giá và các quy định về quản lý và sử dụng rừng.
2. Xác định thông tin về diện tích rừng đã có giá dùng để so sánh gồm vị trí rừng, trạng thái rừng, trữ lượng, chất lượng lâm sản và công trình kết cấu hạ tầng gắn liền với mục đích bảo vệ, phát triển rừng tại thời điểm chuyển nhượng, cho thuê hoặc giao dịch trên thị trường.
3. Phân tích, so sánh để lựa chọn những tiêu chí giống nhau và khác nhau về giá giữa diện tích rừng so sánh với diện tích rừng cần xác định giá.
4. Điều chỉnh các yếu tố khác biệt về giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sở hữu rừng trồng giữa diện tích rừng so sánh với diện tích rừng cần định giá.
5. Xác định giá quyền sử dụng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất là rừng tự nhiên, giá quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng.
Mục 4: LỰA CHỌN PHƯƠNG PHÁP ĐỊNH GIÁ VÀ ĐIỀU CHỈNH GIÁ CÁC LOẠI RỪNG
Điều 15. Lựa chọn phương pháp xác định giá các loại rừng
Cơ quan, tổ chức có chức năng định giá, tư vấn về giá căn cứ nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng quy định tại Nghị định này và điều kiện cụ thể của địa phương để lựa chọn phương pháp xác định giá các loại rừng cho phù hợp.
1. Việc lựa chọn phương pháp định giá phải căn cứ vào loại giá rừng cụ thể cần được xác định và đảm bảo lợi ích của chủ rừng, người làm nghề rừng.
2. Trường hợp cần thiết có thể sử dụng kết hợp các phương pháp xác định giá các loại rừng quy định tại Nghị định này để định giá hoặc kiểm tra, so sánh, đối chiếu khi quyết định mức giá cụ thể.
Điều 16. Điều chỉnh giá các loại rừng
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định điều chỉnh giá các loại rừng trong các trường hợp sau:
1. Khi có điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng rừng.
2. Khi giá quyền sử dụng rừng, giá quyền sở hữu rừng trồng thực tế trên thị trường tăng hoặc giảm trên 20% so với giá quy định hiện hành liên tục trong thời gian từ 6 tháng trở lên.
Điều 17. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1. Giao cho cơ quan chuyên môn hoặc thuê tổ chức có chức năng định giá, tư vấn về giá xác định giá các loại rừng theo quy định tại Nghị định này.
2. Tổ chức thẩm định giá các loại rừng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua và công bố công khai tại địa phương.
3. Kiểm tra, xử lý và giải quyết những vấn đề liên quan đến việc định giá các loại rừng thuộc thẩm quyền tại địa phương.
4. Theo dõi biến động giá chuyển nhượng, cho thuê trên thị trường hoặc giá giao dịch (giữa Nhà nước và chủ rừng) về quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng trồng trên thị trường; thường xuyên, tổ chức thống kê giá các loại rừng.
5. Quy định cụ thể hệ số "k" để làm cơ sở xác định tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng gây thiệt hại cho Nhà nước theo quy định tại
6. Kinh phí thực hiện xác định giá các loại rừng do ngân sách nhà nước đảm bảo.
Điều 18. Trách nhiệm của các Bộ, ngành
1. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra, giám sát, giải quyết vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị định này.
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
|
| TM. CHÍNH PHỦ |
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 2Pháp lệnh Giá năm 2002
- 3Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004
- 4Quyết định 104/2007/QĐ-BNN về quy chế quản lý các hoạt động du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên do Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành
- 5Thông tư liên tịch 65/2008/TTLT-BNN-BTC hướng dẫn Nghị định 48/2007/NĐ-CP về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài chính ban hành
Nghị định 48/2007/NĐ-CP về nguyên tắc và phương pháp xác định giá các loại rừng
- Số hiệu: 48/2007/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 28/03/2007
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 274 đến số 275
- Ngày hiệu lực: 04/05/2007
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
