Năm 1992, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 37-HĐBT kèm theo Quy chế quản lý kinh doanh du lịch nhằm thiết lập hành lang pháp lý thống nhất, chặt chẽ cho các hoạt động kinh doanh du lịch tại Việt Nam, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Quy chế này áp dụng đối với mọi công dân Việt Nam đủ 18 tuổi và các tổ chức kinh tế Việt Nam có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch, kinh doanh du lịch quốc tế, cũng như các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền liên quan trong phạm vi cả nước.
Thủ tục và thẩm quyền thành lập doanh nghiệp du lịch
- Hồ sơ xin phép thành lập: Tổ chức và cá nhân muốn thành lập doanh nghiệp du lịch phải lập hồ sơ theo mẫu của Bộ Thương mại và Du lịch, bao gồm: Đơn xin phép thành lập; Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp; Bản kê khai về vốn (được cơ quan tài chính hoặc ngân hàng xác nhận); Bản kê khai về cơ sở vật chất kỹ thuật và danh sách nhân viên.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng 60 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản về việc cấp hoặc không cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp.
- Thẩm quyền cấp giấy phép:
- Bộ trưởng Bộ Thương mại và Du lịch được ủy quyền xét cấp giấy phép thành lập đối với các doanh nghiệp du lịch Nhà nước.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét cấp giấy phép thành lập đối với các doanh nghiệp du lịch tư nhân và Công ty kinh doanh du lịch trên địa bàn sau khi đã trao đổi ý kiến thống nhất với Bộ Thương mại và Du lịch.
- Đăng ký kinh doanh: Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập hoặc thay đổi nội dung hoạt động, chủ doanh nghiệp phải tiến hành đăng ký kinh doanh tại cơ quan Trọng tài kinh tế Nhà nước và thông báo cho các cơ quan hữu quan.
Quy định về hoạt động, thay đổi cấu trúc và đại lý du lịch
- Thay đổi nội dung kinh doanh: Khi thay đổi mục tiêu, ngành nghề hoặc nội dung kinh doanh, doanh nghiệp phải làm lại hồ sơ gửi cơ quan cấp phép và sẽ được trả lời trong thời hạn 60 ngày.
- Giải thể và tạm ngừng hoạt động: Việc giải thể doanh nghiệp du lịch Nhà nước, công ty kinh doanh du lịch hay doanh nghiệp tư nhân phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật tương ứng (như Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư nhân). Trường hợp tạm ngừng hoạt động, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp phép.
- Đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ngoài tỉnh: Doanh nghiệp muốn mở chi nhánh hoặc văn phòng đại diện ngoài tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở chính phải xin phép Ủy ban nhân dân nơi đặt chi nhánh, thực hiện đăng ký tại địa phương đó và thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp phép ban đầu trong vòng 15 ngày.
- Hoạt động đại lý du lịch: Các tổ chức, cá nhân đã có giấy phép đăng ký kinh doanh nhưng chưa đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp du lịch độc lập, nếu muốn làm dịch vụ du lịch thì bắt buộc phải ký hợp đồng làm đại lý cho một doanh nghiệp du lịch đã được cấp phép và tuân thủ đầy đủ các quy định của Quy chế này.
Trách nhiệm của tổ chức và cá nhân kinh doanh du lịch
- Kinh doanh đúng theo các nội dung và phạm vi đã được ghi nhận trong giấy phép được cấp.
- Chấp hành nghiêm chỉnh, đồng thời phổ biến và hướng dẫn khách du lịch thực hiện đúng các quy định của Nhà nước về bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên và di sản văn hóa.
- Mọi hoạt động xây dựng mới, cải tạo hoặc mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch phải phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch chung.
- Chấp hành nghiêm chỉnh Pháp lệnh kế toán - thống kê, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế và các nghĩa vụ tài chính khác; thực hiện chế độ báo cáo định kỳ theo quy định của Bộ Thương mại và Du lịch.
- Tuân thủ các tiêu chuẩn phân loại, xếp hạng khách sạn và các cơ sở lưu trú du lịch do Bộ Thương mại và Du lịch ban hành.
- Chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn tuyệt đối về tính mạng và tài sản của khách du lịch trong quá trình phục vụ.
- Thực hiện việc gắn biển hiệu doanh nghiệp theo đúng quy chuẩn quy định.
Quy định riêng về kinh doanh du lịch quốc tế
- Điều kiện cấp phép bổ sung: Doanh nghiệp muốn kinh doanh du lịch quốc tế ngoài việc đáp ứng điều kiện thành lập thông thường phải có thị trường du lịch quốc tế ổn định, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng tiêu chuẩn phục vụ khách nước ngoài, và có đội ngũ quản lý, nhân viên nghiệp vụ được đào tạo chính quy qua các trường lớp về du lịch.
- Thẩm quyền cấp phép: Bộ trưởng Bộ Thương mại và Du lịch trực tiếp xét cấp giấy phép kinh doanh du lịch quốc tế sau khi trao đổi ý kiến với các cơ quan hữu quan.
- Thời hạn và gia hạn giấy phép: Giấy phép kinh doanh du lịch quốc tế có giá trị sử dụng trong 3 năm. Khi hết hạn, doanh nghiệp có thể xin gia hạn với thời gian mỗi lần gia hạn không quá 2 năm.
- Trách nhiệm quản lý khách: Doanh nghiệp có trách nhiệm quản lý toàn diện các đoàn khách du lịch nước ngoài do mình thu hút từ khi nhập cảnh cho đến khi xuất cảnh khỏi Việt Nam, cũng như quản lý các đoàn khách Việt Nam đi du lịch nước ngoài theo chương trình đã ký kết. Quy định này cũng áp dụng đối với khách nước ngoài đi lẻ bằng thị thực du lịch hoặc quá cảnh mua chương trình du lịch của doanh nghiệp Việt Nam.
- Liên doanh và đầu tư nước ngoài: Đối với các dự án hợp tác, liên doanh hoặc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào lĩnh vực du lịch và khách sạn tại Việt Nam, Ủy ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư phải thống nhất ý kiến với Bộ Thương mại và Du lịch trước khi tiến hành cấp giấy phép đầu tư.
- Đặt văn phòng đại diện tại nước ngoài: Doanh nghiệp du lịch muốn đặt văn phòng đại diện ở nước ngoài phải được Bộ Thương mại và Du lịch cấp phép kinh doanh du lịch quốc tế, có đủ nguồn vốn ngoại tệ theo quy định và được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại chấp thuận.
Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm
- Công tác kiểm tra: Bộ Thương mại và Du lịch cùng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm phối hợp kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh du lịch theo đúng pháp luật, bảo đảm không gây cản trở đến hoạt động kinh doanh bình thường của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi cho lực lượng chức năng làm nhiệm vụ.
- Hình thức xử lý vi phạm:
- Chủ doanh nghiệp vi phạm các quy định tại Quy chế này sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất và mức độ hậu quả gây ra.
- Cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cấp phép sai quy định hoặc bao che, dung túng cho các hành vi vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc hoặc bị truy tố trước pháp luật.
Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp
Nghị định 37-HĐBT và Quy chế kèm theo có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành. Tất cả các quy định trước đây của Hội đồng Bộ trưởng, các Bộ, Ủy ban Nhà nước và Tổng cục Du lịch (cũ) về quản lý kinh doanh du lịch trái với Quy chế này đều bị bãi bỏ. Bộ trưởng Bộ Thương mại và Du lịch chịu trách nhiệm ban hành hướng dẫn chi tiết thi hành trong vòng 45 ngày kể từ ngày ban hành.
Đối với các tổ chức và cá nhân đang hoạt động kinh doanh du lịch trước đó, trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày ban hành Quy chế này, bắt buộc phải tiến hành đăng ký lại để được cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp mới theo hướng dẫn. Mọi trường hợp không thực hiện đăng ký lại mà vẫn tiếp tục hoạt động sẽ bị coi là kinh doanh trái phép và bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 37-HĐBT | Hà Nội, ngày 28 tháng 1 năm 1992 |
CUẢ HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 37-HĐBT NGÀY 28-1-1992VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY CHẾ QUẢN LÝ KINH DOANH DU LỊCH
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4 tháng 7 năm 1981;
Để thống nhất và tăng cường hiệu lực quản lý kinh doanh du lịch trên lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khuyến khích phát triển du lịch và khai thác có hiệu quả, hợp lý các tài nguyên du lịch; bảo đảm quyền lợi chính đáng và nghĩa vụ của người kinh doanh du lịch.
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế quản lý kinh doanh du lịch.
|
| Võ Văn Kiệt (Đã ký) |
QUẢN LÝ KINH DOANH DU LỊCH
(Ban hanh kèm theo Nghị định số: 37-HĐBT ngày 28 tháng 1 năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng)
Các tổ chức liên doanh hợp tác đầu tư với nước ngoài và nước ngoài đầu tư vào Việt Nam về kinh doanh du lịch thực hiện theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Điều 2. - Trong quy chế này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. "Khách du lịch quốc tế" là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đến và lưu lại qua đêm ở Việt Nam; công dân Việt Nam đi du lịch nước ngoài.
"Khách du lịch nội địa" là công dân Việt Nam rời khỏi nơi ở thường xuyên của mình, có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm của các tổ chức kinh doanh du lịch trong phạm vi lãnh thổ Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. "Kinh doanh du lịch" là việc thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các dịch vụ du lịch nhằm mục đích sinh lợi.
3. Các dịch vụ du lịch bao gồm :
- Xây dựng và bán các chương trình du lịch trọn gói hoặc theo yêu cầu của khách; làm đại lý bán các chương trình du lịch.
- Các dịch vụ lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, bán hàng cho khách du lịch.
- Dịch vụ vận chuyển khách du lịch.
- Dịch vụ hướng dẫn tham quan, phiên dịch, cung cấp thông tin cho khách du lịch.
- Các dịch vụ khác cho khách du lịch được pháp luật cho phép.
CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP DOANH NGHIỆP DU LỊCH
1. Có mục tiêu, ngành nghề kinh doanh rõ ràng, có phương án kinh doanh và trụ sở giao dịch chính.
2. Có đủ vốn pháp định.
3. Có cơ sở vật chất - kỹ thuật và nhân viên am hiểu nghiệp vụ, có năng lực hành nghề theo quy định của Bộ Thương mại và Du lịch.
Hồ sơ xin phép thành lập doanh nghiệp du lịch gồm:
1. Đơn xin phép thành lập doanh nghiệp du lịch.
2. Điều lệ tổ chức, hoạt động của doanh nghiệp du lịch.
3. Các bản kê khai về vốn được cơ quan tài chính hoặc ngân hàng xác nhận; kê khai về cơ sở vật chất kỹ thuật, danh sách nhân viên.
Các hồ sơ trên lập theo mẫu quy định của Bộ Thương mại và Du lịch.
Điều 7. - Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp du lịch:
1. Bộ trưởng Bộ Thương mại và Du lịch được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng uỷ quyền xét cấp giấy phép thành lập các doanh nghiệp du lịch Nhà nước theo Nghị định số 388-HĐBT ngày 20 tháng 11 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng.
2. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xét cấp giấy phép thành lập các doanh nghiệp du lịch tư nhân và Công ty kinh doanh du lịch trên địa bàn theo Luật doanh nghiệp tư nhân và luật Công ty sau khi trao đổi ý kiến với Bộ Thương mại và Du lịch.
2. Khi giải thể doanh nghiệp du lịch Nhà nước phải thực hiện đúng Nghị định số 388-HĐBT ngày 20-11-1991 và các Quyết định số 315-HĐBT ngày 1-9-1990 và số 330-HĐBT ngày 23-10-1991 của Hội đồng Bộ trưởng; khi giải thế các Công ty kinh doanh du lịch và doanh nghiệp du lịch tư nhân phải thực hiện theo đúng Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân.
3. Khi tạm ngừng hoạt động, chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan cấp giấy phép.
- Xin phép Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố nơi đặt chi nhánh hoặc Văn phòng đại diện, đăng ký và thông báo với các cơ quan hữu quan tại địa phương đó.
- Thông báo bằng băn bản cho cơ quan cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được phép đặt Văn phòng đại diện hoặc Chi nhánh.
Điều 12. - Tổ chức và cá nhân kinh doanh du lịch có trách nhiệm:
1. Kinh doanh đúng nội dung quy định trong giấy phép đã được cấp.
2. Chấp hành và phổ biến, hướng dẫn khách du lịch chấp hành các quy định của Nhà nước về bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, môi trường sinh thái, tài nguyên thiên nhiên, di sản văn hoá.
3. Việc xây dựng mới hoặc cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật để kinh doanh du lịch, phải phù hợp với các dự án quy hoạch phát triển du lịch.
4. Chấp hành Pháp lệnh kế toán - thống kê, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác theo luật định; nghiêm chỉnh thực hiện chế độ báo cáo theo quy định của Bộ Thương mại và Du lịch.
5. Chấp hành các quy định, tiêu chuẩn phân loại, xếp hạng khách sạn và các cơ sở tiếp nhận và phục vụ du lịch khác của Bộ Thương mại và Du lịch.
6. Bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản của khách du lịch.
7. Gắn biển hiệu theo quy định của Bộ Thương mại và Du lịch.
1. Có thị trường du lịch quốc tế ổn định và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đáp ứng được nhu cầu du lịch của khách nước ngoài.
2. Có đủ đội ngũ nhân viên quản lý và nhân viên nghiệp vụ được đào tạo qua các trường, lớp chính quy về du lịch.
Căn cứ các điều kiện trên, Bộ Thương mại và Du lịch quy định những tiêu chuẩn cụ thể.
Khách nước ngoài vào Việt Nam với các loại thị thực khác, nếu mua chương trình du lịch của một tổ chức kinh doanh du lịch quốc tế của Việt Nam thì tổ chức này có trách nhiệm quản lý khách theo chương trình du lịch đã bán.
Điều 18. - Tổ chức kinh doanh du lịch muốn đặt đại diện ở nước ngoài phải có đủ các điều kiện:
1. Là tổ chức kinh doanh du lịch đã được Bộ Thương mại và Du lịch cấp giấy phép kinh doanh du lịch quốc tế.
2. Có vốn ngoại tệ theo các quy định hiện hành.
3. Được tổ chức có thẩm quyền nước sở tại chấp thuận.
Thủ tục xét cho phép đặt Đại diện du lịch ở nước ngoài thực hiện theo Nghị định số 283-HĐBT ngày 8-8-1990 của Hội đồng Bộ trưởng.
Việc đặt Văn phòng đại diện du lịch nước ngoài tại Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện theo quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 382-HĐBT ngày 5-11-1990 của Hội đồng Bộ trưởng.
1. Chủ doanh nghiệp du lịch nếu vi phạm các quy định của quy chế này thì tuỳ mức độ vi phạm và hậu quả sẽ bị xử phạt hành chính hoặc truy tố trước pháp luật.
2. Tổ chức, cá nhân lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp du lịch và giấy phép kinh doanh du lịch quốc tế không đúng quy định, hoặc dung túng, bao che những hành vi vi phạm các quy định tại quy chế này thì tuỳ mức độ vi phạm và hậu quả sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc truy tố trước pháp luật.
Chậm nhất là 45 ngày sau ngày ban hành Quy chế này, Bộ trưởng Bộ Thương mại và Du lịch chịu trách nhiệm hướng dẫn và quy định chi tiết để thực hiện.
- 1Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 2Nghị định 283-HĐBT năm 1990 ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của cơ quan đại diện kinh tế thương mại Việt nam ở nước ngoài do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 3Quyết định 315-HĐBT năm 1990 về việc chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất và kinh doanh trong khu vực kinh tế quốc doanh do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 4Nghị định 382-HĐBT năm 1990 ban hành Quy chế đặt và hoạt động của Văn phòng đại diện thường trú các tổ chức kinh tế nước ngoài tại Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 5Luật Công ty 1990
- 6Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990
- 7Quyết định 330-HĐBT năm 1991 sửa đổi Quyết định 315-HĐBT về việc chấn chỉnh và tổ chức lại sản xuất và kinh doanh trong khu vực kinh tế quốc doanh do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 8Nghị định 388-HĐBT năm 1991 về Quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 9Thông tư 04-TMDL-DL/TT năm 1992 hướng dẫn thi hành Quy chế quản lý kinh doanh du lịch ban hành kèm theo Nghị định 37-HĐBT/NĐ 1992 do Bộ thương mại và du lịch ban hành
Nghị định 37-HĐBT năm 1992 ban hành Quy chế quản lý kinh doanh du lịch do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 37-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 28/01/1992
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Võ Văn Kiệt
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 3
- Ngày hiệu lực: 28/01/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
