Nghị định số 361-TTg được ban hành năm 1959 bởi Thủ tướng Chính phủ (do Phó Thủ tướng Trường Chinh ký thay) về việc thành lập Cục Truyền thanh trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho việc tổ chức, quản lý và phát triển hệ thống phát thanh, truyền hình chính quy tại Việt Nam.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này quy định về việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Cục Truyền thanh trực thuộc Thủ tướng Chính phủ. Đối tượng áp dụng bao gồm Cục Truyền thanh, các Bộ, ngành, đoàn thể ở trung ương, chính quyền địa phương các cấp và các cơ quan, tổ chức liên quan đến hoạt động truyền thanh trên toàn quốc.
Nhiệm vụ trọng tâm của Cục Truyền thanh
Cục Truyền thanh được giao các nhiệm vụ chiến lược nhằm phục vụ công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng và Nhà nước:
- Thực hiện các nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục theo từng thời kỳ của Đảng và Chính phủ bằng các phương tiện vô tuyến truyền thanh.
- Tổ chức và phát triển phong trào nghe phát thanh trong quần chúng nhân dân nhằm nâng cao đời sống sinh hoạt văn hóa, đồng thời phát huy tối đa tác dụng của hệ thống truyền thanh trong đời sống xã hội.
- Nghiên cứu, tham mưu giúp Chính phủ vạch ra các chủ trương, chính sách phát triển ngành vô tuyến truyền thanh phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, hướng tới việc xây dựng ngành vô tuyến truyền hình của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong tương lai.
Trách nhiệm và quyền hạn của Cục Truyền thanh
Để bảo đảm hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, Nghị định quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của Cục Truyền thanh trong mối quan hệ với các cơ quan nhà nước khác:
- Trách nhiệm về nội dung: Bảo đảm các tin tức, bài vở phát thanh luôn đúng đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, bảo đảm tính chân thực và kịp thời. Các Bộ, ngành, đoàn thể trung ương và chính quyền địa phương có trách nhiệm phối hợp, cung cấp tình hình, tài liệu và các tiết mục tuyên truyền cần thiết cho Cục.
- Quyền hạn tham gia quản lý ngành: Được quyền tham gia đóng góp ý kiến với các Bộ, ngành ở trung ương về việc tổ chức nghe phát thanh cho quần chúng, cũng như việc sản xuất, nhập khẩu và định giá các loại máy móc, vật liệu thu, phát thanh.
- Chỉ đạo chuyên môn: Chịu trách nhiệm chỉ đạo trực tiếp về mặt nghiệp vụ tuyên truyền và kỹ thuật truyền thanh đối với các đài truyền thanh tại các địa phương.
- Vị thế hành chính: Cục trưởng Cục Truyền thanh có thể được mời dự thính các phiên họp của Hội đồng Chính phủ hoặc Thường vụ Hội đồng Chính phủ. Về mặt quản lý cán bộ, kế hoạch và tài chính, Cục hoạt động như một đơn vị cơ sở liên hệ trực tiếp với Bộ Nội vụ, Ủy ban Kế hoạch Nhà nước và Bộ Tài chính.
- Hợp tác quốc tế: Khi được sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ, Cục được quyền trao đổi kinh nghiệm nghiệp vụ truyền thanh với các đài của các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, hoặc ký kết các hiệp định hợp tác truyền thanh với các đài của các nước bạn ngoài phe xã hội chủ nghĩa.
Cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động
Nghị định quy định mô hình tổ chức của Cục Truyền thanh theo hướng tập trung, thống nhất:
- Ban lãnh đạo Cục: Cục đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ, gồm có một Cục trưởng và một số Phó Cục trưởng trực tiếp chỉ đạo, điều hành công việc.
- Ban tổng biên tập: Là tổ chức lãnh đạo tập thể giúp việc cho Cục trưởng trong công tác tuyên truyền của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam. Thành phần Ban tổng biên tập gồm có Cục trưởng, các Cục phó và một số Trưởng phòng chuyên trách công tác tuyên truyền.
- Quy định chi tiết về bộ máy: Bộ máy tổ chức cụ thể của Cục Truyền thanh sẽ do Bộ trưởng Phủ Thủ tướng quy định bằng một văn bản Nghị định riêng biệt.
Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Bộ trưởng Phủ Thủ tướng và Cục trưởng Cục Truyền thanh chịu trách nhiệm thi hành các điều khoản quy định tại Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| PHỦ THỦ TƯỚNG | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 361-TTg | Hà Nội, ngày 06 tháng 10 năm 1959 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Nghị định số 588-TTg ngày 28 tháng 09 năm 1955 đặt Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam trực thuộc Thủ tướng phủ;
Theo đề nghị của ông Bộ trưởng Thủ tướng phủ;
Căn cứ Nghị quyết của hội nghị Thường vụ Hội đồng Chính phủ ngày 16 tháng 9 năm 1959.
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. – Nay thành lập Cục Truyền thanh trực thuộc Thủ tướng Chính phủ.
Điều 2. - Cục Truyền thanh có nhiệm vụ:
1. Thực hiện những nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục từng thời kỳ của Đảng và Chính phủ bằng những phương tiện vô tuyến truyền thanh.
2. Tổ chức phát triển việc nghe phát thanh trong nhân dân để nâng cao sinh hoạt văn hóa và phát huy tác dụng truyền thanh trong nhân dân.
3. Nghiên cứu giúp Chính phủ vạch chính sách, chủ trương phát triển ngành vô tuyến truyền thanh thích ứng với từng thời kỳ và tiến tới xây dựng ngành vô tuyến truyền hình của nước Việt Nam dân chủ công hòa
Các Bộ, các ngành, các đoàn thể ở trung ương và các cấp chính quyền địa phương có trách nhiệm cung cấp tình hình, tài liệu và tiết mục tuyên truyền cần thiết cho Cục Truyền thanh.
Điều 11. - Bộ máy tổ chức của Cục Truyền thanh do Nghị định của Bộ trưởng Thủ tướng phủ quy định.
| K.T. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
- 1Nghị định 121-CP năm 1963 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư liên tịch 40-TT-LB năm 1962 hướng dẫn thống nhất Truyền thanh Bưu điện ở địa phương do Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính - Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh - Đài tiếng nói Việt Nam ban hành
- 1Nghị định 121-CP năm 1963 quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh do Hội đồng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư liên tịch 40-TT-LB năm 1962 hướng dẫn thống nhất Truyền thanh Bưu điện ở địa phương do Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính - Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh - Đài tiếng nói Việt Nam ban hành
Nghị định 361-TTg năm 1959 về thành lập Cục Truyền thanh trực thuộc Thủ tướng Chính phủ do Thủ Tướng ban hành.
- Số hiệu: 361-TTg
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 06/10/1959
- Nơi ban hành: Phủ Thủ tướng
- Người ký: Trường Chinh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 43
- Ngày hiệu lực: 21/10/1959
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
