Nghị định 35-NĐ/CA ban hành năm 1959 do Bộ Công an ban hành quy định chi tiết về thể lệ quản lý các cơ sở khách sạn, quán trọ trên phạm vi cả nước. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm thiết lập trật tự, an ninh xã hội, đồng thời quản lý chặt chẽ hoạt động lưu trú trong giai đoạn bấy giờ.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với tất cả các cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động chứa trọ, bao gồm cả các trường hợp chứa trọ có thu tiền hoặc không thu tiền trọ trực tiếp nhưng nhằm phục vụ cho mục đích kinh doanh các ngành nghề khác (như quán cơm, trạm ngựa, và các hình thức kinh doanh tương tự). Tất cả các đối tượng này đều phải thực hiện đầy đủ thủ tục kê khai và quản lý theo quy định của cơ quan công an.
Thủ tục đăng ký và cấp phép hoạt động kinh doanh chứa trọ
- Đối với các cơ sở đã hoạt động từ trước: Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Ủy ban hành chính địa phương công bố nghị định, chủ cơ sở phải nộp hồ sơ tại Khu, Sở, Ty Công an địa phương. Hồ sơ bao gồm: Đơn xin phép làm nghề; Bản lý lịch của chủ hiệu và các cổ đông (kèm ảnh 4x6 chụp thẳng, không đội mũ, nghiêng mặt 2/3 về bên trái) có xác nhận của Ủy ban hành chính khu phố; Danh sách nhân viên phục vụ kèm lý lịch tóm tắt; Sơ đồ bố trí bên trong của khu vực nhà trọ. Trong thời gian chờ xét duyệt, cơ sở được phép tiếp tục hoạt động.
- Đối với các cơ sở muốn mở mới: Chỉ được phép đi vào hoạt động sau khi đã hoàn thành thủ tục kê khai và được cơ quan công an cấp giấy phép chính thức.
- Nghĩa vụ đăng ký thương nghiệp: Bên cạnh thủ tục tại cơ quan công an, chủ cơ sở phải chấp hành nghiêm túc các quy định về đăng ký và quản lý kinh doanh của cơ quan Thương nghiệp địa phương.
Quy định về thay đổi thông tin và quy mô kinh doanh
Chủ cơ sở chứa trọ phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan công an quản lý trực tiếp trước ít nhất 10 ngày khi có các thay đổi như: đổi tên hiệu, chuyển nhượng cổ phần, thay đổi số lượng nhân viên phục vụ, thay đổi quy mô phòng trọ (thu hẹp hoặc nới rộng), hoặc tạm ngừng hoạt động. Đối với các trường hợp thay đổi chủ sở hữu, chuyển nhượng toàn bộ cửa hiệu, thay đổi địa điểm kinh doanh hoặc di dời cơ sở sang tỉnh, thành phố khác, chủ cơ sở bắt buộc phải xin phép và được sự đồng ý của Khu, Sở, Ty Công an địa phương trước khi thực hiện.
Trách nhiệm và nghĩa vụ của chủ cơ sở chứa trọ
- Quản lý số lượng và cơ sở vật chất: Không được chứa quá số lượng khách trọ đã được cơ quan công an giới hạn. Phải treo biển hiệu rõ ràng trước cửa, đánh số phòng, số giường, niêm yết công khai bảng giá dịch vụ. Phải trang bị đầy đủ các phương tiện vệ sinh, phòng cháy chữa cháy và phòng chống thiên tai, bão lụt.
- Bảo đảm an ninh và an toàn cho khách: Chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho khách lưu trú, chăm sóc y tế ban đầu cho người ốm, thực hiện các biện pháp đề phòng bệnh truyền nhiễm và luôn có người túc trực tại cơ sở. Phải bố trí khu vực ngủ riêng biệt giữa nam và nữ, đồng thời duy trì hệ thống chiếu sáng suốt đêm.
- Quản lý tài sản của khách: Khi nhận ký gửi hành lý, tiền bạc, tư trang của khách phải lập biên lai chính thức. Trường hợp khách bỏ quên tài sản, chủ cơ sở phải ghi chép vào sổ chuyên dụng và trình báo ngay cho đồn công an để giải quyết.
- Phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội: Có nghĩa vụ báo cáo ngay lập tức cho đồn công an gần nhất khi phát hiện các đối tượng khả nghi, gián điệp, lưu manh, mại dâm, tội phạm trốn tù, đối tượng buôn lậu hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác diễn ra tại cơ sở.
Quy trình đăng ký tạm trú và báo cáo lưu trú hàng ngày
- Ghi chép thông tin khách trọ: Khi tiếp nhận khách vào trọ, chủ cơ sở phải ghi chép đầy đủ, rõ ràng các thông tin cá nhân bao gồm: Họ và tên, tuổi, giới tính, quốc tịch, nguyên quán, nghề nghiệp, địa chỉ thường trú, nơi đi, lý do lưu trú, các giấy tờ tùy thân xuất trình, thời gian đến, thời gian đi và địa điểm dự kiến đến tiếp theo.
- Khai báo tại khu vực có đồn, trạm công an: Hàng ngày, theo khung giờ quy định, chủ cơ sở phải mang phiếu trọ (theo mẫu thống nhất) cùng sổ trọ và giấy tờ tùy thân của khách đến nộp tại đồn công an sở tại. Đối với khách đến trọ sau giờ quy định, chủ cơ sở vẫn phải ghi nhận thông tin và mang đến trình báo trước 7 giờ sáng ngày hôm sau.
- Khai báo tại khu vực không có đồn, trạm công an: Chủ cơ sở phải ghi chép thông tin vào sổ trọ (do công an huyện hướng dẫn) và mang sổ cùng giấy tờ tùy thân của khách đến trình báo với công an xóm hoặc lực lượng bảo vệ dân phố. Khi sổ trọ đã sử dụng hết, chủ cơ sở phải nộp lại cho công an xã trước khi được cấp sổ mới để tiếp tục sử dụng.
- Hợp tác kiểm tra: Chủ cơ sở có trách nhiệm dẫn đường, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi khi nhân viên công an đến tiến hành kiểm tra, kiểm soát cơ sở.
Chế tài xử lý vi phạm và chính sách khen thưởng
- Thu hồi giấy phép do không hoạt động: Giấy phép kinh doanh chứa trọ sẽ tự động mất hiệu lực nếu cơ sở không hoạt động liên tục trong vòng 02 tháng mà không có lý do chính đáng được cơ quan công an chấp thuận.
- Hình thức xử lý vi phạm: Tùy thuộc vào tính chất và mức độ vi phạm các quy định về quản lý, báo cáo lưu trú, an toàn trật tự, chủ cơ sở có thể bị áp dụng một hoặc nhiều hình thức xử lý đồng thời như: cảnh cáo, phạt vi cảnh, tước quyền sử dụng giấy phép có thời hạn hoặc vĩnh viễn, hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự trước tòa án. Nếu vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh thương nghiệp, cơ sở sẽ bị xử lý theo Điều lệ số 489/TTg ngày 30-3-1955 của Thủ tướng Chính phủ.
- Chính sách khen thưởng: Những chủ cơ sở chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đồng thời có thành tích xuất sắc trong việc phát hiện, báo cáo kịp thời giúp cơ quan chức năng triệt phá các vụ án, hành vi phạm pháp quan trọng sẽ được xem xét khen thưởng xứng đáng.
Hiệu lực thi hành và trách nhiệm tổ chức thực hiện
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành và bãi bỏ toàn bộ các quy định trước đây trái với nội dung của nghị định này. Ủy ban hành chính các khu, thành phố, tỉnh, Chánh văn phòng Bộ Công an và Giám đốc Vụ Trị an dân cảnh Bộ Công an chịu trách nhiệm hướng dẫn, đôn đốc và tổ chức thi hành nghiêm túc các điều khoản đã được phê duyệt.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ CÔNG AN | VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA |
| Số: 35-NĐ/CA | Hà Nội, ngày 14 tháng 2 năm 1959 |
BỘ TRƯỞNG BỘ CÔNG AN
Căn cứ Điều lệ số 488/TTg ngày 30-3-1955 của Thủ tướng Chính phủ về việc đăng ký các loại kinh doanh công thương nghiệp;
Căn cứ Thông tư số 557/TTg ngày 11-7-1955 của Thủ tướng Chính phủ về phân công các ngành đăng ký công thương nghiệp;
Để bảo đảm trật tự trị an, ngăn ngừa những phần tử lợi dụng hoạt động phi pháp, bảo hộ việc kinh doanh chính đáng của những chủ chứa trọ;
Sau khi thoả thuận với Bộ Thương nghiệp và sau khi được Thủ tướng Chính phủ thông qua.
NGHỊ ĐỊNH
Một đơn xin phép làm nghề.
Một bản lý lịch chủ hiệu và lý lịch những người góp cổ phần có chững thực của Uỷ ban hành chính khu phố (mỗi lý lịch phải kèm theo một chiếc ảnh khổ 4x6 phân, nửa người, mới chụp, không đội nón, mũ, nghiêng mặt 2/3 về phía tay trái).
- Một bản danh sách những người phục vụ có ghi lý lịch đơn giản .
- Một bản sơ đồ khu vực nhà trình bày thấy được cảnh bố trí bên trong.
Trong khi chờ đợi cơ quan công an xét cấp giấy phép, những người làm nghề chứa trọ nói trên vẫn được tiếp tục hoạt động cho đến khi có quyết định mới.
Điều 6: Những người làm nghề chứa trọ phải làm theo những điểm sau đây:
Không được chứa quá số người trọ mà cơ quan công an địa phương đã quy định cho mỗi khách sạn, quán trọ.
Phải treo biển hiệu trước cửa, phải đánh số phòng, số giường, có bản niêm yết giá tiền chứa trọ, phải có đủ phương tiện vệ sinh, phương tiện phòng cứu hoả và phòng chống bão.
Phải đảm bảo sự an toàn cho khách trọ, chủ ý chăm sóc người ốm, đề phòng bệnh truyêng nhiễm, phải có người thường trực.
Phải phân biệt chỗ nằm riêng giữa nam và nữ, có đủ đèn sáng suốt đêm.
Khi nhận các hành lý, giấy tờ, tư trang, tiền bạc của khách trọ gửi phải có biên lai chính thức. Trường hợp khách trọ để quên các thứ đó cần phải ghi vào sổ và trình đồn công an giải quyết.
Khi biết những phần tử khả nghi, gián điệp, lưu manh, gái điếm, tù trốn, buôn lậu hoặc những hiện tượng phi pháp khác phải lập tức bao cáo cho đồn công an gần nhất.
Đối với những nơi không có đồn, trạm công an chủ chứa trọ phải mang sổ trọ và giấy tuỳ thân của khách trọ đến trình báo tại công an xóm hay bảo vệ dân phố.
Sau khi dùng hết sổ trọ, chủ hiệu phải mang nộp tại công an xã và tiếp tục dùng sổ mới.
a- Nếu vi phạm Điều 5, 6, 7, 8 và 9 trong nghị định này sẽ bị một hay nhiều hình thức kỷ luật cùng một lúc như: cảnh cáo, phạt vi cảnh, thu hồi giấy phép có thời hạn hoặc vĩnh viễn, hoặc có thể bị truy tố trước toà án.
b- Nếu vi phạm về thể lệ đăng ký kinh doanh sẽ bị xử lý theo các điều 23 và 24 Điều lệ số 489/TTg ngày 30-3-1955 của Thủ tướng Chính phủ về đăng ký kinh doanh công thương nghiệp.
Điều 13: Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ.
| Lê Quốc Thân (Đã ký) |
Nghị định 35-NĐ/CA năm 1959 Quy định thể lệ quản lý khách sạn, quán trọ do Bộ công an ban hành
- Số hiệu: 35-NĐ/CA
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 14/02/1959
- Nơi ban hành: Bộ Công An
- Người ký: Lê Quốc Thân
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 7
- Ngày hiệu lực: 01/03/1959
- Ngày hết hiệu lực: 12/02/1980
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
