Nghị định 25/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành kèm theo Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội nhằm thiết lập hành lang pháp lý thống nhất cho việc thành lập, tổ chức, hoạt động và giải thể các cơ sở bảo trợ xã hội tại Việt Nam. Văn bản quy định chi tiết về điều kiện, hồ sơ, thẩm quyền thành lập, cơ chế quản lý đối tượng nuôi dưỡng, quản lý nhân sự, tài chính cũng như trách nhiệm quản lý nhà nước của các cơ quan liên quan.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Quy chế ban hành kèm theo Nghị định này áp dụng thống nhất đối với tất cả các cơ sở bảo trợ xã hội trên phạm vi cả nước, bao gồm cả cơ sở công lập và ngoài công lập do tổ chức, đoàn thể hoặc cá nhân thành lập nhằm tiếp nhận, quản lý và nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội.
Nguyên tắc hoạt động và các hành vi bị nghiêm cấm
- Việc tiếp nhận đối tượng xã hội vào cơ sở bảo trợ xã hội phải bảo đảm đúng người, đúng nguyên tắc và đúng thẩm quyền được quy định.
- Nghiêm cấm tuyệt đối mọi hành vi lợi dụng danh nghĩa hoặc hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội để thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc nhằm mục đích vụ lợi cá nhân.
Hồ sơ và thủ tục thành lập cơ sở bảo trợ xã hội
- Đối với cơ sở do cá nhân thành lập: Hồ sơ bao gồm đơn xin thành lập; đề án thành lập (nêu rõ tên gọi, tôn chỉ, mục đích, địa bàn hoạt động, số lượng đối tượng dự kiến, nhân sự, nguồn tài chính); giấy tờ hợp pháp về quyền sở hữu hoặc sử dụng đất đai, nhà cửa và phương tiện phục vụ; dự thảo Quy chế hoạt động; sơ yếu lý lịch của người đứng đầu (Giám đốc) có xác nhận của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã nơi cư trú; và văn bản đồng ý của UBND cấp xã nơi đặt trụ sở.
- Đối với cơ sở do tổ chức, đoàn thể thành lập: Hồ sơ yêu cầu đầy đủ các giấy tờ tương tự như đối với cá nhân (trừ sơ yếu lý lịch cá nhân tự thành lập). Trường hợp cơ sở thuộc thẩm quyền quyết định của UBND cấp tỉnh thì phải có thêm văn bản thẩm định và đề nghị của tổ chức, đoàn thể, tôn giáo cấp tỉnh.
- Quy trình thẩm định hồ sơ: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định hồ sơ đối với cơ sở hoạt động trên địa bàn huyện do Phòng quản lý. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định hồ sơ đối với cơ sở hoạt động trên địa bàn tỉnh do Sở quản lý. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định hồ sơ do các Bộ, ngành lập. Cơ quan thẩm định phải cấp giấy biên nhận và hoàn thành thẩm định trình cấp có thẩm quyền quyết định trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ. Nếu không đủ điều kiện, phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do.
Thẩm quyền thành lập, giải thể và thay đổi thông tin hoạt động
- Thẩm quyền quyết định: Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định đối với cơ sở thuộc Bộ. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ quyết định đối với cơ sở thuộc Bộ, ngành quản lý sau khi thỏa thuận với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định đối với cơ sở hoạt động phạm vi cấp tỉnh. Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định đối với cơ sở của tổ chức đoàn thể, cá nhân hoạt động bằng nguồn kinh phí ngoài ngân sách trên phạm vi cấp huyện.
- Quy chế hoạt động của cơ sở: Phải bảo đảm các nội dung về mối quan hệ chỉ đạo, điều hành; trách nhiệm của cán bộ, nhân viên; trách nhiệm và quyền lợi của đối tượng nuôi dưỡng; nguyên tắc quản lý tài sản, tài chính; và các quy định hành chính khác.
- Thay đổi thông tin hoạt động: Khi thay đổi tên gọi, trụ sở, Giám đốc hoặc Quy chế hoạt động, cơ sở phải đề nghị bằng văn bản gửi cơ quan quản lý trực tiếp và cấp quyết định thành lập. Trong vòng 30 ngày, nếu cơ quan có thẩm quyền không trả lời bằng văn bản thì cơ sở được phép thực hiện các thay đổi đã đề nghị.
- Hạn chế kiêm nhiệm: Một người không được cùng lúc thành lập nhiều cơ sở hoặc làm Giám đốc của từ 02 cơ sở bảo trợ xã hội trở lên, trừ trường hợp các cơ sở này do cùng một tổ chức hoặc một người tài trợ.
Thủ tục giải thể cơ sở bảo trợ xã hội
- Hồ sơ xin giải thể: Bao gồm đơn xin giải thể (nêu rõ lý do); bản kê khai tài sản, tài chính và phương án xử lý; danh sách đối tượng đang quản lý kèm phương án giải quyết khi giải thể.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng 30 ngày kể từ khi nhận hồ sơ, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản. Cơ sở không được tự ý giải thể khi chưa có quyết định chính thức.
- Giải thể do vi phạm hoặc hoạt động kém hiệu quả: Cơ sở phải thực hiện phương án giải thể theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong thời hạn 90 ngày.
- Gia hạn hoạt động: Khi hết thời hạn hoạt động, Giám đốc cơ sở có thể làm thủ tục xin gia hạn theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Quản lý đối tượng nuôi dưỡng tại cơ sở
- Tiếp nhận đối tượng: Cơ sở công lập và tổ chức tiếp nhận đối tượng khi có quyết định của cơ quan quản lý trực tiếp. Trong trường hợp khẩn cấp đe dọa tính mạng đối tượng, cơ sở được tiếp nhận trước và phải báo cáo cơ quan quản lý trực tiếp ra quyết định trong vòng 07 ngày. Cơ sở do cá nhân thành lập thì Giám đốc tự quyết định tiếp nhận theo đề án đã duyệt.
- Điều kiện tiếp nhận: Phải có đơn xin vào cơ sở của đối tượng hoặc thân nhân (có xác nhận của UBND cấp xã nơi thường trú); hồ sơ bệnh án hoặc kết luận giám định y khoa đối với người tàn tật, người tâm thần mãn tính.
- Lập hồ sơ cá nhân: Cơ sở phải lập hồ sơ riêng cho từng đối tượng. Đối với trẻ em bị bỏ rơi, phải ghi nhận đặc điểm nhận dạng, ước đoán tuổi, chụp ảnh và tiến hành thủ tục khai sinh trong vòng 30 ngày kể từ khi tiếp nhận để bảo đảm quyền lợi hợp pháp.
- Đưa đối tượng ra khỏi cơ sở: Giám đốc quyết định đưa đối tượng ra khỏi cơ sở khi: trẻ em đến tuổi trưởng thành hoặc được nhận làm con nuôi/đỡ đầu; người tàn tật đã phục hồi hoặc người tâm thần đã ổn định bệnh (có giám định); hoặc được gia đình, người bảo lãnh hợp pháp nhận về nuôi dưỡng.
- Nghĩa vụ của đối tượng và xử lý khi tử vong: Đối tượng nuôi dưỡng phải chấp hành nghiêm chỉnh Quy chế của cơ sở và sự điều hành của Giám đốc. Trường hợp đối tượng tử vong, cơ sở có trách nhiệm tổ chức mai táng theo quy định.
Quản lý nhân sự, tài chính, tài sản và chế độ báo cáo
- Quản lý nhân sự: Tổ chức bộ máy và nhân sự thực hiện theo đề án đã trình. Giám đốc thực hiện tuyển dụng, ký hợp đồng lao động và hợp đồng cộng tác viên theo quy định của pháp luật lao động. Tiền lương và bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định hiện hành.
- Quản lý tài chính, tài sản: Thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành. Việc chi tiêu từ nguồn hỗ trợ hoặc từ kết quả lao động, sản xuất tự có của cơ sở phải bảo đảm tính công khai, dân chủ và đúng Quy chế đã phê duyệt. Cơ sở phải báo cáo tài chính định kỳ và hàng năm cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan quản lý trực tiếp.
- Chế độ báo cáo định kỳ: Cơ sở bảo trợ xã hội báo cáo định kỳ trước ngày 15 tháng 6 và trước ngày 15 tháng 12 hàng năm cho cơ quan quản lý trực tiếp. Trước ngày 31 tháng 12 hàng năm, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổng hợp tình hình hoạt động trên địa bàn để báo cáo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Nội dung quản lý nhà nước đối với cơ sở bảo trợ xã hội
- Ban hành, sửa đổi, bổ sung và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan.
- Quyết định thành lập, giải thể, đình chỉ hoạt động; xây dựng kế hoạch, chương trình, dự án và tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách.
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các vi phạm phát sinh.
- Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực quản lý và chuyên môn cho các cơ sở.
- Tổ chức và quản lý hoạt động hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo trợ xã hội.
- Phân công trách nhiệm: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước trên phạm vi cả nước. Các Bộ, ngành phối hợp thực hiện trong phạm vi chức năng. UBND các cấp thực hiện quản lý nhà nước tại địa phương.
Khen thưởng, xử lý vi phạm và điều khoản thi hành
- Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong hoạt động nuôi dưỡng, quản lý đối tượng xã hội được khen thưởng theo quy định.
- Mọi hành vi vi phạm Quy chế này sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm; nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định pháp luật.
- Các cơ sở bảo trợ xã hội đã thành lập trước ngày Quy chế này có hiệu lực phải tiến hành sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động của mình cho phù hợp với các quy định mới.
Hiệu lực thi hành: Nghị định 25/2001/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký ban hành. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 25/2001/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 31 tháng 5 năm 2001 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Căn cứ Điều 4 của Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ quy định về chính sách cứu trợ xã hội;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Nghị định này ''Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội''.
Điều 2. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Mọi quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Bộ trưởng các Bộ: Lao động - Thương binh và Xã hội, Tư pháp, Tài chính, Công an, Y tế, Giáo dục và Đào tạo, Chủ nhiệm ủy ban Bảo vệ và Chăm sóc trẻ em Việt Nam trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình và theo quy định của pháp luật có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Nghị định này.
Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
|
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI
(Ban hành kèm theo Nghị định số 25/2001/NĐ-CP ngày 31 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ)
2. Cơ sở bảo trợ xã hội có từ 10 (mười) người trở lên thuộc phạm vi điều chỉnh của Quy chế này.
3. Tổ chức, cá nhân có đủ các điều kiện quy định tại Nghị định số 07/2000/NĐ-CP ngày 09 tháng 3 năm 2000 về chính sách cứu trợ xã hội và tại Quy chế này đều có quyền thành lập cơ sở bảo trợ xã hội.
Điều 2. Đối tượng được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm:
1. Người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không tự lo được cuộc sống, và là một trong những trường hợp sau:
a) Trẻ em mồ côi bị mất nguồn nuôi dưỡng, không còn người thân thích để nương tựa;
b) Người già cô đơn, không có nguồn thu nhập, không nơi nương tựa;
c) Người tàn tật không có nguồn thu nhập, không nơi nương tựa.
2. Người tâm thần mãn tính có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.
3. Những người không có điều kiện sống ở gia đình, tự nguyện đóng góp kinh phí, hoặc người thân, người nhận bảo trợ đóng góp kinh phí để sống trong cơ sở bảo trợ xã hội.
4. Các đối tượng khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
Điều 3. Cơ sở bảo trợ xã hội là đơn vị hoạt động sự nghiệp xã hội, có tư cách pháp nhân và có nhiệm vụ như sau:
1. Tiếp nhận, tổ chức quản lý, nuôi dưỡng, giáo dục các đối tượng ghi tại Điều 2 của Quyết định này.
2. Tổ chức hoạt động phục hồi chức năng, lao động sản xuất; trợ giúp các đối tượng nuôi dưỡng trong các hoạt động: tự quản, văn hoá, thể thao và các hoạt động khác phù hợp với lứa tuổi và sức khoẻ của từng đối tượng.
3. Phối hợp với các cơ quan, đơn vị để dạy văn hoá, dạy nghề, giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp đối tượng xã hội phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, nhân cách, hoà nhập và tái hoà nhập cộng đồng.
Điều 4. Kinh phí đảm bảo hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm:
1. Nguồn tự có của chủ cơ sở bảo trợ xã hội;
2. Nguồn trợ giúp từ các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài;
3. Nguồn đóng góp của gia đình, người thân hoặc người nhận bảo trợ đối tượng xã hội;
4. Nguồn thu từ tổ chức lao động sản xuất, dịch vụ;
5. Nguồn huy động khác.
2. Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng cơ sở bảo trợ xã hội để hoạt động bất hợp pháp và vụ lợi.
THÀNH LẬP VÀ GIẢI THỂ CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI
Điều 6. Hồ sơ thành lập cơ sở bảo trợ xã hội của cá nhân theo mẫu thống nhất do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định bao gồm:
1. Đơn xin thành lập cơ sở bảo trợ xã hội.
2. Đề án về việc thành lập cơ sở bảo trợ xã hội: tên gọi, tôn chỉ mục đích, thời hạn và địa bàn hoạt động; số lượng đối tượng xã hội dự kiến tiếp nhận, đội ngũ nhân viên quản lý, nhân viên phục vụ; nguồn tài chính đảm bảo các hoạt động của cơ sở đảm bảo như quy định tại Điều 4 Quy chế này; tên gọi và địa chỉ trụ sở của tổ chức, cá nhân tài trợ (nếu có).
3. Các giấy tờ hợp pháp về quyền sở hữu hoặc sử dụng đất đai và nhà cửa, các phương tiện khác phục vụ cho các hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội.
4. Dự thảo Quy chế (nội quy chi tiết) hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội.
5. Sơ yếu lý lịch của người đứng đầu (Giám đốc) cơ sở bảo trợ xã hội, có xác nhận của ủy ban nhân dân xã, phường nơi cư trú.
6. ý kiến đồng ý bằng văn bản về việc thành lập cơ sở bảo trợ xã hội của ủy ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở bảo trợ xã hội đặt trụ sở hoạt động.
Điều 7. Hồ sơ xin thành lập cơ sở bảo trợ xã hội của các tổ chức, đoàn thể bao gồm:
1. Có đủ văn bản như quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 6 Quy chế này.
2. Cơ sở bảo trợ của tổ chức, đoàn thể, tôn giáo thuộc thẩm quyền quyết định của ủy ban nhân dân cấp tỉnh thì phải có văn bản thẩm định và đề nghị của tổ chức, đoàn thể, tôn giáo cấp tỉnh.
Điều 8. Việc thẩm định hồ sơ thành lập cơ sở bảo trợ xã hội được thực hiện như sau:
1. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện (quận) thẩm định hồ sơ thành lập cơ sở bảo trợ xã hội hoạt động trên địa bàn huyện và do Phòng quản lý.
2. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định hồ sơ thành lập cơ sở bảo trợ xã hội hoạt động trên địa bàn tỉnh và do Sở quản lý.
3. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm định hồ sơ do các Bộ, ngành lập để trình xin phép thành lập cơ sở bảo trợ xã hội thuộc sự quản lý của các Bộ, ngành.
4. Cơ quan nhận và thẩm định hồ sơ xin thành lập cơ sở bảo trợ xã hội phải thực hiện các quy định sau:
a) Cấp giấy biên nhận cho bên nộp hồ sơ.
b) Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận đủ hồ sơ theo quy định phải hoàn thành việc thẩm định hồ sơ, trình cấp có thẩm quyền ra quyết định thành lập hoặc thỏa thuận để cơ quan chủ quản thành lập cơ sở bảo trợ xã hội theo quy định tại Điều 8.
c) Trường hợp cá nhân, tổ chức không đủ điều kiện thành lập cơ sở bảo trợ xã hội thì cấp có thẩm quyền thành lập phải trả lời bằng văn bản, nêu rõ lý do không đủ điều kiện thành lập cơ sở bảo trợ xã hội.
Điều 9. Thẩm quyền cho phép thành lập, giải thể hoặc chấm dứt hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội quy định như sau:
1. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ra quyết định đối với cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Bộ.
2. Sau khi có sự thỏa thuận với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ ra quyết định đối với các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc Bộ, ngành quản lý.
3. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định đối với các cơ sở bảo trợ xã hội hoạt động trên phạm vi cấp tỉnh, thành phố thuộc tỉnh.
4. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố, huyện, quận, thị xã thuộc tỉnh ra quyết định đối với các cơ sở bảo trợ xã hội của tổ chức đoàn thể, cá nhân với nguồn kinh phí ngoài ngân sách, hoạt động trên phạm vi cấp huyện.
Điều 10. Quy chế hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội quy định tại khoản 4 Điều 6 Quy chế này phải đảm bảo các nội dung sau:
1. Mối quan hệ trong chỉ đạo, điều hành cơ sở bảo trợ xã hội.
2. Trách nhiệm của cán bộ, nhân viên thuộc cơ sở bảo trợ xã hội.
3. Trách nhiệm, quyền lợi của đối tượng nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội.
4. Nguyên tắc quản lý tài sản, tài chính của cơ sở bảo trợ xã hội.
5. Những quy định có tính chất hành chính và những vấn đề liên quan khác, phù hợp với đặc điểm của loại hình cơ sở bảo trợ xã hội.
Điều 11. Trường hợp cơ sở bảo trợ xã hội cần thay đổi tên gọi, trụ sở, Giám đốc hoặc thay đổi Quy chế hoạt động của cơ sở thì phải đề nghị bằng văn bản với cơ quan quản lý trực tiếp của cơ sở và cấp ra quyết định thành lập. Trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, cấp ra quyết định thành lập phải trả lời bằng văn bản về đề nghị của cơ sở; quá thời hạn nêu trên, nếu không nhận được văn bản trả lời, thì cơ sở bảo trợ xã hội được thực hiện theo các thay đổi đã đề nghị.
Điều 12. Một người không được cùng lúc thành lập nhiều cơ sở hay làm giám đốc của 02 cơ sở bảo trợ xã hội trở lên, trừ trường hợp các cơ sở này đều do một tổ chức hoặc một người tài trợ.
Điều 13. Giải thể cơ sở bảo trợ xã hội:
1. Hồ sơ xin giải thể cơ sở bảo trợ xã hội gồm có:
a) Đơn xin giải thể cơ sở bảo trợ xã hội, nội dung đơn cần nêu rõ lý do xin giải thể trước thời hạn;
b) Bản kê khai tài sản, tài chính và phương án xử lý;
c) Danh sách đối tượng xã hội đang quản lý và phương án giải quyết khi cơ sở giải thể.
2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ xin giải thể, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản về đề nghị của cơ sở. Khi chưa nhận được quyết định giải thể, cơ sở bảo trợ xã hội không được tự động giải thể.
3. Trường hợp cơ quan có thẩm quyền ra quyết định giải thể cơ sở bảo trợ xã hội do cơ sở đó vi phạm pháp luật hoặc hoạt động kém hiệu quả thì cơ sở bảo trợ xã hội phải thực hiện phương án giải thể theo quyết định của cấp có thẩm quyền trong thời hạn 90 ngày.
4. Khi hết thời hạn hoạt động, Giám đốc cơ sở bảo trợ xã hội có thể đề nghị với cơ quan có thẩm quyền xin gia hạn thời gian hoạt động theo thủ tục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.
HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI
MỤC 1: QUẢN LÝ ĐỐI TƯỢNG NUÔI DƯỠNG
Điều 14. Tiếp nhận đối tượng nuôi dưỡng:
1. Cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước và các tổ chức quy định tại Điều 1 tiếp nhận đối tượng khi có quyết định của cơ quan quản lý trực tiếp. Trường hợp khẩn cấp, đe dọa tính mạng của đối tượng quy định tại Điều 2 của Quy chế này, cơ sở bảo trợ xã hội có thể tiếp nhận khi chưa có quyết định và trong thời hạn 07 ngày phải báo cáo với cơ quan quản lý trực tiếp ra quyết định tiếp nhận.
2. Giám đốc cơ sở bảo trợ xã hội do cá nhân thành lập quyết định tiếp nhận đối tượng theo đúng đề án thành lập đã được phê duyệt.
Điều 15. Cơ quan quản lý trực tiếp của cơ sở bảo trợ xã hội ra quyết định tiếp nhận đối tượng nuôi dưỡng phù hợp với quy mô của cơ sở bảo trợ xã hội, nếu đối tượng có đủ các điều kiện sau:
1. Đơn xin vào cơ sở bảo trợ xã hội của đối tượng hoặc thân nhân đối tượng, có xác nhận và đề nghị của ủy ban nhân dân cấp xã nơi đối tượng đăng ký nhân khẩu thường trú.
2. Hồ sơ bệnh án, kết luận giám định của cơ quan y tế có thẩm quyền đối với người tàn tật, người tâm thần mãn tính.
Hồ sơ tiếp nhận làm theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định. Trường hợp khẩn cấp phải có biên bản xác nhận.
Điều 16. Cơ sở bảo trợ xã hội phải tiến hành lập hồ sơ cá nhân của từng đối tượng, bao gồm:
1. Đơn xin vào cơ sở bảo trợ xã hội, sơ yếu lý lịch, hồ sơ bệnh án (nếu có), quyết định tiếp nhận đối tượng.
2. Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, phải ghi tuổi (ước đoán), đặc điểm nhận dạng lúc thu nhận kèm theo ảnh và các giấy tờ khác (nếu có). Trong thời hạn 30 ngày, kể từ khi có quyết định tiếp nhận trẻ em bị bỏ rơi, cơ sở phải làm thủ tục khai sinh để đảm bảo các quyền lợi hợp pháp của trẻ theo các quy định hiện hành.
Điều 17. Giám đốc cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm thực hiện quản lý, nuôi dưỡng đối tượng xã hội theo Điều 3 của Quy chế này.
Điều 18. Giám đốc cơ sở bảo trợ xã hội quyết định đưa đối tượng ra khỏi cơ sở bảo trợ xã hội khi đối tượng có đủ một trong các điều kiện sau:
1. Trẻ em đã đến tuổi trưởng thành hoặc có người nhận làm con nuôi, nhận đỡ đầu nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.
2. Người tàn tật đã phục hồi, người tâm thần đã ổn định bệnh tật (theo văn bản giám định).
3. Gia đình hoặc người bảo lãnh hợp pháp nhận nuôi.
Điều 19. Đối tượng được nhận nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm chấp hành Quy chế của cơ sở bảo trợ xã hội và các quyết định điều hành của Giám đốc.
Điều 20. Trường hợp đối tượng bị chết, cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm tổ chức mai táng theo quy định hiện hành.
MỤC 2: QUẢN LÝ CÁN BỘ, NHÂN VIÊN
Điều 21. Tổ chức và cán bộ của cơ sở bảo trợ xã hội được thực hiện theo đúng Đề án đã được trình trong hồ sơ xin thành lập cơ sở bảo trợ xã hội và thay đổi theo quy định tại Điều 11 của Quy chế này.
2. Tiền lương và bảo hiểm xã hội của cán bộ, nhân viên thuộc cơ sở bảo trợ xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành.
MỤC 3: QUẢN LÝ TÀI CHÍNH, TÀI SẢN
Điều 23. Cơ sở bảo trợ xã hội thực hiện quản lý tài chính, tài sản theo các quy định của pháp luật hiện hành.
Điều 24. Cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động tài chính định kỳ và hàng năm theo quy định của pháp luật với cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan quản lý trực tiếp.
Điều 25. Việc chi tiêu từ các nguồn kinh phí trợ giúp hoặc do lao động, sản xuất của cơ sở bảo trợ xã hội tạo ra phải thực hiện công khai, dân chủ, theo đúng Quy chế hoạt động đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 26. Cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm thực hiện chế độ báo cáo định kỳ trước ngày 15 tháng 6 và trước ngày 15 tháng 12 hàng năm và những kiến nghị với cơ quan quản lý trực tiếp để tổng hợp báo cáo Sở Lao động - Thương binh và Xã hội về các mặt hoạt động.
Điều 27. Hàng năm, trước ngày 31 tháng 12, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm thống kê, tập hợp tình hình hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh, thành phố báo cáo về Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Chương 4:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CƠ SỞ BẢO TRỢ XÃ HỘI
Điều 28. Quản lý nhà nước đối với cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm các nội dung sau:
1. Ban hành, sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật về hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội.
2. Thành lập, giải thể, đình chỉ hoạt động cơ sở bảo trợ xã hội.
Lập kế hoạch, chương trình, dự án về hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện các chính sách đối với cơ sở bảo trợ xã hội.
3. Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật của cơ sở bảo trợ xã hội; xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về vi phạm chính sách, chế độ liên quan đến hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội.
4. Hướng dẫn chuyên môn, hỗ trợ đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn cho cơ sở bảo trợ xã hội, cung cấp thông tin về chính sách, chế độ của nhà nước đối với cơ sở bảo trợ xã hội.
5. Tổ chức và hướng dẫn việc hợp tác quốc tế về bảo trợ xã hội, đảm bảo hiệu quả, đúng mục đích, đúng đối tượng.
2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động của các cơ sở bảo trợ xã hội.
3. Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước đối với cơ sở bảo trợ xã hội trong phạm vi địa phương quản lý.
Điều 30. Tổ chức, cá nhân có thành tích trong hoạt động nuôi dưỡng, quản lý đối tượng xã hội được khen thưởng theo các quy định hiện hành.
Điều 31. Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Quy chế này, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Điều 32. Quy chế này được áp dụng thống nhất với tất cả các cơ sở bảo trợ xã hội trên phạm vi cả nước.
Điều 33. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan hướng dẫn thực hiện Quy chế này. Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra thực hiện Quy chế này đối với cơ sở bảo trợ xã hội trực thuộc.
Điều 34. Các cơ sở bảo trợ xã hội đã thành lập trước ngày ban hành Quy chế này có hiệu lực, phải sửa đổi, bổ sung Quy chế hoạt động của cơ sở phù hợp với nội dung của Quy chế này.
Nghị định 25/2001/NĐ-CP ban hành Quy chế thành lập và hoạt động của cơ sở bảo trợ xã hội
- Số hiệu: 25/2001/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 31/05/2001
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 24
- Ngày hiệu lực: 15/06/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
