Nghị định số 197-HĐBT ban hành năm 1982 bởi Hội đồng Bộ trưởng kèm theo Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá nhằm thiết lập hệ thống đăng ký, bảo hộ pháp lý và quản lý nhãn hiệu hàng hoá thống nhất trên phạm vi cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng: Điều lệ này áp dụng đối với tất cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tại Việt Nam có nhu cầu bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá của mình. Đồng thời, quy định này cũng bắt buộc các nhãn hiệu đã đăng ký theo Nghị định số 175-TTg ngày 03/01/1958 và các nhãn hiệu đã đăng ký tại miền Nam Việt Nam trước ngày 30/04/1975 phải tiến hành đăng ký lại theo quy định mới để tiếp tục được bảo hộ pháp lý.
Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hoá
- Cơ quan thẩm quyền: Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá do Cục Sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước đảm nhiệm. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải nộp hồ sơ xin đăng ký tại cơ quan này để được bảo hộ pháp lý.
- Yêu cầu hồ sơ: Mỗi hồ sơ đăng ký chỉ được sử dụng cho một nhãn hiệu duy nhất và bắt buộc phải đính kèm danh mục các loại hàng hoá sẽ mang nhãn hiệu đó. Người nộp hồ sơ phải nộp đầy đủ các khoản lệ phí đăng ký theo quy định của Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.
- Thời hạn giải quyết: Trong vòng tối đa 01 tháng kể từ ngày nhận hồ sơ, Cục Sáng chế phải xem xét về mặt hình thức và thủ tục. Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày chấp nhận hồ sơ hợp lệ, Cục Sáng chế phải thẩm định nội dung và trình Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước ra quyết định cấp hoặc từ chối cấp Giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá. Trường hợp từ chối phải nêu rõ lý do bằng văn bản cho người nộp hồ sơ biết.
- Công bố thông tin: Nhãn hiệu được cấp Giấy chứng nhận sẽ được ghi nhận vào Sổ đăng bạ nhãn hiệu hàng hoá quốc gia và công bố trên Thông báo sáng chế và nhãn hiệu hàng hoá do Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước xuất bản. Chủ nhãn hiệu có trách nhiệm nộp lệ phí in nhãn hiệu khi công bố.
Nguyên tắc ưu tiên và đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài
- Xác định quyền ưu tiên: Trường hợp có nhiều hồ sơ đăng ký các nhãn hiệu trùng hoặc tương tự gây nhầm lẫn cho cùng một loại hàng hoá, quyền ưu tiên thuộc về người nộp hồ sơ sớm nhất. Ngày ưu tiên được xác định dựa trên: ngày Cục Sáng chế nhận hồ sơ (hoặc ngày gửi theo dấu bưu điện); ngày nộp đơn đầu tiên tại nước ngoài theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; hoặc ngày trưng bày sản phẩm tại triển lãm chính thức ở Việt Nam (nếu nộp đơn trong vòng 06 tháng kể từ ngày trưng bày).
- Giải quyết tranh chấp ưu tiên: Nếu xảy ra tranh chấp về quyền ưu tiên, nhãn hiệu sẽ được cấp cho người chứng minh được mình đã sử dụng nhãn hiệu đó trước một cách rộng rãi trên thị trường.
- Đăng ký ra nước ngoài: Các cơ sở sản xuất, kinh doanh được phép đăng ký nhãn hiệu ra nước ngoài để bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, nhãn hiệu đó bắt buộc phải được bảo hộ tại Việt Nam trước khi đăng ký ra nước ngoài và phải được sự đồng ý của Bộ, Uỷ ban Nhà nước hoặc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh liên quan, cùng sự thoả thuận của Bộ Ngoại thương.
Thời hạn bảo hộ, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu
- Thời hạn bảo hộ: Nhãn hiệu được bảo hộ kể từ ngày có quyết định cấp Giấy chứng nhận. Thời hạn bảo hộ là 10 năm tính từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ. Chủ sở hữu có thể gia hạn nhiều lần, mỗi lần tối đa 10 năm, bằng cách nộp đơn xin gia hạn và lệ phí trong vòng 06 tháng trước khi thời hạn bảo hộ kết thúc.
- Quyền độc quyền sử dụng: Trong thời hạn hiệu lực, chủ nhãn hiệu được độc quyền sử dụng nhãn hiệu để đánh dấu các hàng hoá trong danh mục đã đăng ký cho các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Nghĩa vụ bảo đảm chất lượng: Chủ nhãn hiệu có trách nhiệm duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm. Hàng hoá không bảo đảm phẩm cấp chất lượng theo quy định thì không được phép mang nhãn hiệu đã đăng ký.
- Quyền chuyển nhượng: Chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ quyền sử dụng nhãn hiệu thông qua hợp đồng, với điều kiện bên nhận chuyển nhượng phải bảo đảm tính năng và chất lượng hàng hoá. Hợp đồng chuyển nhượng phải được đăng ký tại Cục Sáng chế mới có giá trị pháp lý.
Sửa đổi và hủy bỏ hiệu lực bảo hộ nhãn hiệu
- Sửa đổi thông tin: Chủ nhãn hiệu có quyền đề nghị Cục Sáng chế sửa đổi tên, địa chỉ, một số chi tiết nhỏ của nhãn hiệu hoặc danh mục hàng hoá và phải nộp lệ phí. Nếu việc sửa đổi làm thay đổi cơ bản nhãn hiệu, chủ sở hữu phải tiến hành nộp hồ sơ đăng ký mới.
- Các trường hợp hủy bỏ hiệu lực: Hiệu lực bảo hộ pháp lý sẽ bị huỷ bỏ trong các trường hợp: chủ nhãn hiệu tự nguyện nộp đơn từ bỏ quyền bảo hộ; cơ sở sở hữu nhãn hiệu chấm dứt hoạt động hoặc giải thể mà không có người thừa kế hợp pháp; nhãn hiệu không được sử dụng liên tục trong 5 năm kể từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ mà không có lý do chính đáng; hoặc có kết luận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc chất lượng hàng hoá không bảo đảm tiêu chuẩn đã đăng ký.
Giải quyết khiếu nại và xử lý hành vi vi phạm
- Quyền khiếu nại của bên thứ ba: Trong suốt thời gian nhãn hiệu có hiệu lực, bất kỳ tổ chức, cá nhân nào phát hiện nhãn hiệu được cấp không đúng quy định đều có quyền gửi đơn khiếu nại, tố cáo đến Cục Sáng chế để Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước xem xét huỷ bỏ.
- Quyền khiếu nại của chủ đơn: Người nộp đơn hoặc chủ nhãn hiệu có quyền khiếu nại các quyết định từ chối nhận hồ sơ, từ chối cấp giấy chứng nhận, đình chỉ hoặc huỷ bỏ hiệu lực bảo hộ. Đơn khiếu nại phải nộp cho Cục Sáng chế trong vòng 03 tháng kể từ ngày nhận quyết định. Cục Sáng chế giải quyết trong vòng 02 tháng; nếu không thống nhất, quyết định của Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước là quyết định cuối cùng.
- Hành vi vi phạm độc quyền: Việc sử dụng nhãn hiệu của người khác mà không được phép, hoặc sử dụng các dấu hiệu trùng, tương tự gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng đối với các loại hàng hoá cùng danh mục đều bị coi là hành vi vi phạm quyền độc quyền.
- Biện pháp xử lý: Chủ nhãn hiệu có quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý vi phạm. Tuỳ theo mức độ, tổ chức, cá nhân vi phạm hoặc không đăng ký, sử dụng nhãn hiệu đúng quy định sẽ bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự trước toà án.
Tổ chức thực hiện và quản lý nhà nước về nhãn hiệu hàng hoá
- Trách nhiệm của Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước: Chỉ đạo toàn diện công tác đăng ký, bảo hộ và sử dụng nhãn hiệu hàng hoá trên phạm vi cả nước, với Cục Sáng chế là cơ quan chuyên môn giúp việc trực tiếp cho Chủ nhiệm Uỷ ban.
- Trách nhiệm của các Bộ, ngành và địa phương: Các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra việc sử dụng nhãn hiệu trong ngành, địa phương mình; hướng dẫn các cơ sở đăng ký trong và ngoài nước; tổng hợp và phổ biến kinh nghiệm thực tiễn.
- Trách nhiệm của cơ sở sản xuất, kinh doanh: Chủ động lập hồ sơ đăng ký nhãn hiệu trong và ngoài nước; thực hiện việc in ấn, trình bày nhãn hiệu đã được bảo hộ lên sản phẩm, bao bì, giấy tờ giao dịch và các phương tiện quảng cáo theo đúng quy định.
Hiệu lực thi hành: Nghị định 197-HĐBT và Điều lệ kèm theo có hiệu lực kể từ ngày công bố. Các quy định trước đây về thể lệ đăng ký và sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ trái với Điều lệ này đều bị bãi bỏ. Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước chịu trách nhiệm ban hành các thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành Điều lệ này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 197-HĐBT | Hà Nội, ngày 14 tháng 12 năm 1982 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG SỐ 197-HĐBT NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 1982 BAN HÀNH ĐIỀU LỆ VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Bộ trưởng ngày 4-7-1981;
Căn cứ Nghị định số 35-CP ngày 9-2-1981 quy định nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của Bộ trưởng và chức năng của Bộ trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nuớc;
Theo đề nghị của chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước.
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1.- Nay ban hành kèm theo Nghị định này bản Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá.
Đối với những nhãn hiệu thương phẩm đã đăng ký theo Nghị định số 175-TTg ngày 3-1-1958 của Thủ tướng Chính phủ và những nhãn hiệu chế tạo hay thương hiệu đã đăng ký ở miền nam Việt Nam trước ngày 30-4-1975 muốn tiếp tục được bảo hộ về pháp lý đều phải đăng ký theo quy định của điều lệ này.
| Tố Hữu (Đã ký) |
ĐIỀU LỆ
VỀ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ
(Ban hành kèm theo Nghị định số 197-HĐBT ngày 14-12-1982 của Hội đồng Bộ trưởng)
Để thống nhất quản lý nhãn hiệu hàng hoá trong phạm vi cả nước, thúc đẩy các cơ sở sản xuất, kinh doanh bảo đảm và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, góp phần quản lý việc lưu thông hàng hoá trên thị trường trong và ngoài nước, chống làm hàng giả và kinh doanh trái phép.
Điều lệ này ban hành nhằm bảo hộ pháp lý các nhãn hiệu hàng hoá, bảo vệ quyền lợi chính dáng của người tiêu dùng và của các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
2. Điều lệ này được áp dụng chung cho việc bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá và nhãn hiệu dịch vụ (sau đây gọi chung là nhãn hiệu hàng hoá).
Cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài tiến hành các công việc liên quan đến bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá ở Việt Nam phải thông qua người đại diện hợp pháp là Phòng thương mại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nếu như các hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia không quy định một thể thức khác.
2. Các Bộ trưởng, chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương trong phạm vi quyền hạn của mình, có trách nhiệm quy định các loại hàng hoá phải mang nhãn hiệu đã được đăng ký khi lưu thông trên thị trường như hàng hoá xuất khẩu, hàng hoá có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và đời sống người tiêu dùng hay một số loại hàng hoá có ý nghĩa kinh tế - xã hội khác thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của mình.
3. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh bắt buộc phải xin đăng ký và sử dụng nhãn hiệu hàng hoá cho các loại hàng hoá theo quy định ở mục 2 nêu trên.
Điều 3.-1. Nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ pháp lý là những dấu hiệu được chấp nhận có thể là từ ngữ, hình ảnh, hình vẽ, hình nổi... hoặc là sự kết hợp các yếu tố trên, được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc kết hợp.
2. Các dấu hiệu dưới đây không được chấp nhận là nhãn hiệu hàng hoá:
a) Các dấu hiệu không có khả năng phân biệt như tập hợp các dạng hình học đơn giản, các chữ số, chữ cái hoặc những chữ không có khả năng phát âm như một từ ngữ, trừ trường hợp đặc biệt các dấu hiệu này đã được sử dụng rộng rãi và được tín nhiệm từ trước.
b) Các dấu hiệu quy ước, các hình vẽ và tên gọi thông thường của hàng hoá đã được sử dụng rộng rãi mọi người đều biết.
c) Các dấu hiệu chỉ thời gian, đia điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, chất lượng, số lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị... mang tính chất mô tả hàng hoá.
d) Các dấu hiệu làm hiểu sai lệch về xuất xứ, tính năng, công dụng của hàng hoá hoặc các dấu hiệu có tính chất lừa đảo người tiêu dùng.
e) Các dấu hiệu giống hoặc tương tự với dấu chất lượng, dấu kiểm tra, dấu bảo hành... của các tổ chức trong hay ngoài nước.
g) Các dấu hiệu mang hình quốc kỳ, quốc huy, biểu tượng quốc gia, ảnh lãnh tụ, ảnh anh hùng dân tộc, địa danh của Việt Nam cũng như của nước ngoài; các tên gọi, biểu tượng của các tổ chức quốc tế nếu không được các cơ quan có thẩm quyền tương ứng cho phép.
h) Các dấu hiệu trái với pháp luật Nhà nước, trật tự và đạo đức xã hội chủ nghĩa.
i) Các dấu hiệu giống hoặc tương tự với nhãn hiệu hàng hoá đã được đăng ký trước tại Việt Nam hoặc đã được bảo hộ theo một hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, cho cùng một loại hàng hoá.
Điều 5. -1. Việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá do Cục sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước đảm nhiệm. Để được bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá, các cơ sở sản xuất, kinh doanh phải nộp hồ sơ xin đăng ký cho Cục sáng chế.
2. Mỗi hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá chỉ sử dụng cho một nhãn hiệu và phải kèm theo danh mục các loại hàng hoá sẽ mang nhãn hiệu đó. Hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá làm theo mẫu quy định trong thông tư hướng dẫn thi hành điều lệ này.
3. Người nộp hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải nộp các khoản lệ phí đăng ký. Lệ phí đăng ký và các khoản lệ phí khác nêu ở các điều sau đây của điều lệ này sẽ do Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước quy định.
Điều 6.-1. Trong thời hạn nhiều nhất là 1 tháng tính từ ngày nhận được hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá, Cục sáng chế phải xem xét các yêu cầu về hình thức và thủ tục lập hồ sơ và trong thời hạn 6 tháng tính từ ngày chấp nhận hồ sơ hợp lệ, Cục sáng chế phải xem xét và trình Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước ra quyết định cấp hoặc không cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá. Trường hợp không cấp phải thông báo rõ lý do cho người nộp hồ sơ biết.
Điều 7.-1. Nếu những nhãn hiệu hàng hoá tương tự gây nhầm lẫn hoặc giống nhau do hai hay nhiều người nộp hồ sơ xin đăng ký cho cùng một loại hàng hoá thì quyền ưu tiên thuộc vè người nộp hồ sơ sớm nhất và được xác định trên cơ sở:
a) Ngày Cục sáng chế nhận hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá hoặc ngày gửi hồ sơ qua bưu điện.
b) Ngày nộp đơn đầu tiên ở một nước khác theo quy định của hiệp ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.
c) Ngày trưng bày hiện vật có mang nhãn hiệu giá hàng hoá tại một cuộc triển lãm chính thức ở Việt Nam, nếu hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá được nộp trong thời hạn 6 tháng tính từ ngày hiện vật được trưng bày tại triển lãm.
2. Nhãn hiệu hàng hoá trước khi đăng ký ra nước ngoài nhất thiết phải được bảo hộ ở Việt Nam.
BẢO HỘ PHÁP LÝ NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ
2. Thời hạn bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá là 10 năm tình từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ.
3. Thời hạn bảo hộ có thể được kéo dài mỗi lần nhiều nhất là 10 năm tính từ thời điểm kết thúc thời hạn trước. Để tiếp tục kéo dài thời hạn bảo hộ, chủ nhãn hiệu hàng hoá phải nộp đơn xin gia hạn cho Cục sáng chế 6 tháng trước khi kết thúc thời hạn bảo hộ và phải nộp lệ phí theo quy định.
Điều 10.-1. Trong thời hạn hiệu lực, chủ nhãn hiệu hàng hoá được độc quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá để đánh dấu các hàng hoá liệt kê trong danh mục hàng hoá mang nhãn hiệu đó, trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay dịch vụ của mình trên lãnh thổ Việt Nam .
3. Chủ nhãn hiệu hàng hoá có quyền chuyển nhượng từng phần hoặc toàn bộ quyền sở dụng nhãn hiệu hàng hoá cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác trên cơ sở hợp đồng, với điều kiện cơ sở tiếp nhận phải đảm bảo tính năng và chất lượng của hàng hoá mang nhãn hiệu đó. Trường hợp chuyển nhượng từng phần, trong hợp đồng phải quy định quyền kiểm tra chất lượng hàng hoá của chủ nhãn hiệu.
4. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá phải được đăng ký tại Cục sáng chế mới có giá trị pháp lý và chủ nhãn hiệu hàng hoá phải nộp lệ phí theo quy định.
Điều 11.-1. Trong thời hạn hiệu lực, chủ nhãn hiệu hàng hoá có thể đè nghị Cục sáng chế sửa đổi tên, địa chỉ của chủ nhãn hiệu, một vài chi tiết trong nhãn hiệu, danh mục háng hoá mang nhãn hiệu... Những sửa đổi này phải được ghi nhận trong sổ đăng bạ nhãn hiệu hàng hoá quốc gia và giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá. Chủ nhãn hiệu phải nộp các khoản lệ phí theo quy định.
2. Trong trường hợp việc sửa đổi dẫn đến làm thay đổi cơ bản nhãn hiệu hàng hoá đã đăng ký, chủ nhãn hiệu phải tiến hành xin đăng ký như nhãn hiệu hàng hoá mới.
Điều 12.-Việc bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá sẽ bị huỷ bỏ khi:
a) Chủ nhãn hiệu làm đơn xin từ bỏ sự bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá trước khi kết thúc thời hạn hiệu lực.
b) Cơ sở sản xuất, kinh doanh là chủ nhãn hiệu không còn tồn tại hoặc không tiếp tục hoạt động mà không có người thừa kế hợp pháp quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá.
c) Nhãn hiệu hàng hoá không được sử dụng sau 5 năm tính từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ mà chủ nhãn hiệu không nêu ra được lý do chính đáng.
Nhãn hiệu hàng hoá được coi là sử dụng khi nhãn hiệu được trình bày trên hàng hoá, bao bì, giấy tờ giao dịch hoặc quảng cáo hàng hoá...
d) Có kết luận của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về chất lượng hàng hoá không đảm bảo tiêu chuẩn với nhãn hiệu đã đăng ký.
- Không chấp nhận hố sơ xin đăng ký nhãn hiệu háng hoá.
- Không cấp giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hoá.
- Đình chỉ hoặc huỷ bỏ hiệu lực bảo hộ pháp lý nhãn hiệu hàng hoá.
2. Trong thời hạn 3 tháng tính từ ngày nhận được quyết định về các việc nêu trên, người khiếu nại phải nộp đơn khiếu nại cho Cục sáng chế.
3. Trong thời hạn 2 tháng tính từ ngày nhận được đơn khiếu nại, Cục sáng chế có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo kết quả cho người khiếu nại. Trường hợp không đạt được sự nhất trí giữa người khiếu nại và Cục sáng chế thì quyết định của chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước là quyết định cuối cùng về các khiếu nại này.
Điều 15.-1. Bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của người khác mà không được phép hoặc sử dụng những dấu hiệu giống hoặc tương tự có khả năng làm người tiêu dùng nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hoá của người khác cho các loại hàng hoá đã được liệt kê trong danh mục đều bị coi là vi phạm độc quyền sử dụng của chủ nhãn hiệu hàng hoá.
2. Chủ nhãn hiệu hàng hoá có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý các trường hợp vi phạm quyền sử dụng nhãn hiệu hàng hoá của mình.
TỔ CHỨC, CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC NHÃN HIỆU HÀNG HOÁ
Điều 17.-1. Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo việc đăng ký, bảo hộ pháp lý và sử dụng nhãn hiệu hàng hoá trong phạm vi cả nước. Cục sáng chế thuộc Uỷ ban Khoa học và kỹ thuật Nhà nước là cơ quan giúp chủ nhiệm Uỷ ban thực hiện chức năng trên.
a) Chỉ đạo các cơ sở xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá ở trong và ngoài nước theo quy định.
b) Kiểm tra việc sử dụng nhãn hiệu hàng hoá.
c) Tổng hợp và phổ biến kinh nghiệm liên quan đến việc xin đăng ký, bảo hộ pháp lý và sử dụng nhãn hiệu hàng hoá.
3. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có trách nhiệm:
a) Chuẩn bị và lập hồ sơ xin đăng ký nhãn hiệu hàng hoá ở trong và ngoài nước theo quy định.
b) Trình bày nhãn hiệu hàng hoá đã được bảo hộ trên sản phẩm hàng hoá, bao bì, giấy tờ giao dịch và quảng cáo hàng hoá của mình.
4. Bộ phận quản lý sáng kiến, sáng chế hoặc tuỳ theo tình hình cụ thể một bộ phận thích hợp khác có trách nhiệm giúp các Bộ, Uỷ ban Nhà nước, cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện các nhiệm vụ trên ở các cấp tương đương.
- 1Luật Sở hữu trí tuệ 2005
- 2Hiệp ước về Luật Nhãn hiệu hàng hoá giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước ban hành
- 3Nghị định 63-CP năm 1996 về sở hữu công nghiệp
- 4Luật Thương mại 1997
- 5Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá (ban hành kèm theo Nghị định số 197-HĐBT ngày 14/12/1982 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 84-HĐBT ngày 20/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 1Nghị định 63-CP năm 1996 về sở hữu công nghiệp
- 2Nghị định 84-HĐBT năm 1990 sửa đổi Điều lệ về sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và sáng chế; Điều lệ về nhãn hiệu hàng hóa, Điều lệ kiểu dáng công nghiệp; Điều lệ về giải pháp hữu ích nhằm thi hành Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 1Luật Sở hữu trí tuệ 2005
- 2Hiệp ước về Luật Nhãn hiệu hàng hoá giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước ban hành
- 3Luật tổ chức Hội đồng Bộ trưởng 1981
- 4Luật Thương mại 1997
- 5Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá (ban hành kèm theo Nghị định số 197-HĐBT ngày 14/12/1982 được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 84-HĐBT ngày 20/3/1990 của Hội đồng Bộ trưởng do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- 6Nghị định 35-CP năm 1981 Quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Bộ trưởng và chức năng của Bộ trưởng trong một số lĩnh vực quản lý Nhà nước do Hội đồng Chính phủ ban hành
Nghị định 197-HĐBT năm 1982 Điều lệ về nhãn hiệu hàng hoá do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 197-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 14/12/1982
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 25
- Ngày hiệu lực: 31/12/1982
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
