Nghị định 124/2004/NĐ-CP được ban hành bởi Chính phủ nhằm quy định cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chính sách quan trọng nhằm ưu tiên nguồn lực tài chính, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội để Thành phố thực hiện tốt vai trò là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của khu vực và cả nước.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thực hiện cơ chế tài chính, ngân sách đặc thù trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
1. Quy định về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và quản lý đất đai
- Phân cấp ngân sách địa phương: Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định phân cấp cụ thể giữa các cấp ngân sách trực thuộc (thành phố, quận, huyện, phường, xã) phù hợp với thực tế địa phương, bảo đảm an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội. Riêng ngân sách xã, thị trấn thực hiện theo quy định riêng của Luật Ngân sách nhà nước.
- Ưu tiên đầu tư: Nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên đầu tư về ngân sách và các nguồn lực tài chính khác cho thành phố Hồ Chí Minh để phát triển kinh tế - xã hội toàn diện.
- Quyết định dự toán hàng năm: Căn cứ vào dự toán do Thủ tướng Chính phủ giao và hướng dẫn của Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định dự toán thu, chi ngân sách; phân bổ nhiệm vụ cho từng cơ quan, đơn vị và quyết định số bổ sung cho ngân sách cấp dưới.
- Tạm ứng ngân sách cho quỹ đất: Để tối ưu hóa hiệu quả sử dụng quỹ đất, Ủy ban nhân dân thành phố được phép tạm ứng từ ngân sách hoặc nguồn vốn huy động hợp pháp để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho các dự án đấu giá quyền sử dụng đất. Sau khi đấu giá thành công, nguồn vốn tạm ứng sẽ được thu hồi để hoàn trả lại cho ngân sách hoặc nguồn huy động.
- Tỷ lệ phân chia khoản thu: Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách thành phố do Chính phủ trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định. Thời gian ổn định tỷ lệ này do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
2. Cơ chế thưởng vượt thu và bổ sung có mục tiêu từ ngân sách trung ương
- Thưởng vượt thu: Trong trường hợp ngân sách trung ương có số tăng thu so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách thành phố, ngân sách thành phố được thưởng 30% số tăng thu này. Mức thưởng tối đa không vượt quá số tăng thu thực tế so với năm trước.
- Bổ sung có mục tiêu: Ngân sách trung ương thực hiện bổ sung có mục tiêu cho ngân sách thành phố theo hai nguồn:
- Tương ứng 70% phần còn lại của số tăng thu ngân sách trung ương từ các khoản thu phân chia (sau khi đã trừ đi số tiền thưởng vượt thu 30%).
- Tương ứng 30% số thu vượt dự toán được giao đối với các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100% trên địa bàn. Khoản này không áp dụng đối với thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu, các khoản thu không phát sinh trên địa bàn nhưng hạch toán nộp tại Thành phố, các khoản hạch toán ghi thu - ghi chi, và các khoản thu để lại đơn vị chi quản lý qua ngân sách nhà nước.
- Sử dụng nguồn thưởng và bổ sung: Ủy ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân quyết định sử dụng các khoản thưởng và bổ sung có mục tiêu này vào các mục đích: đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; thanh toán các khoản nợ vay huy động; thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và thưởng cho ngân sách cấp dưới.
3. Chính sách thu hút và quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)
- Ưu tiên bố trí ODA: Chính phủ ưu tiên bố trí nguồn vốn ODA cho thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật đô thị, cải thiện môi trường và các công trình phúc lợi công cộng.
- Nguyên tắc bố trí vốn đối ứng:
- Đối với dự án do các Bộ, cơ quan trung ương làm chủ đầu tư: Ngân sách trung ương chịu trách nhiệm bảo đảm toàn bộ nguồn vốn, bao gồm cả vốn đối ứng.
- Đối với dự án do Ủy ban nhân dân thành phố làm chủ đầu tư: Thành phố có trách nhiệm tự cân đối và bố trí vốn đối ứng từ nguồn ngân sách địa phương.
- Ưu tiên vốn vay về cho vay lại: Tập trung ưu tiên bố trí vốn cho các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp hoặc các dự án sản xuất hàng hóa xuất khẩu có năng lực cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
- Quy trình quyết định mức hỗ trợ: Trên cơ sở đề xuất của Thành phố và ý kiến phối hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Chính phủ sẽ cân đối mức hỗ trợ ODA cụ thể trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm để trình Quốc hội quyết định.
4. Cơ chế huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng
- Hình thức huy động vốn: Thành phố được phép huy động vốn trong nước thông qua phát hành trái phiếu chính quyền địa phương hoặc các hình thức huy động hợp pháp khác. Ngân sách thành phố có trách nhiệm chi trả đầy đủ cả gốc, lãi và các chi phí phát sinh liên quan.
- Huy động vốn vay nước ngoài: Thành phố được chủ động tìm kiếm nguồn vay nước ngoài để đầu tư hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương. Quy trình thực hiện yêu cầu Thành phố lập phương án, lấy ý kiến của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước khi trình Thủ tướng Chính phủ quyết định theo cơ chế Chính phủ vay về cho Thành phố vay lại. Thành phố có trách nhiệm bố trí ngân sách địa phương để hoàn trả nợ vay đúng hạn.
- Hạn mức dư nợ huy động: Tổng dư nợ từ các nguồn vốn huy động (trong nước và nước ngoài) không được vượt quá 100% tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách thành phố theo dự toán đã được Hội đồng nhân dân thành phố quyết định hàng năm. Hạn mức này không bao gồm các nguồn vốn huy động theo quy định pháp luật khác và vốn bổ sung có mục tiêu không ổn định từ ngân sách trung ương.
- Điều kiện và nguyên tắc huy động: Việc huy động vốn phải dựa trên phương án do Ủy ban nhân dân lập và được Hội đồng nhân dân thành phố thông qua. Các công trình, dự án sử dụng vốn huy động phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội, nằm trong danh mục kế hoạch đầu tư 5 năm đã được phê duyệt, đã có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền và Thành phố phải cam kết cân đối ngân sách để trả nợ khi đến hạn.
- Các hình thức đầu tư khác: Đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn, Ủy ban nhân dân thành phố quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền áp dụng các hình thức đầu tư như BOT (Xây dựng - Vận hành - Chuyển giao), BTO (Xây dựng - Chuyển giao - Vận hành), BT (Xây dựng - Chuyển giao) và các giải pháp tài chính hỗ trợ lãi suất hoặc bù chênh lệch chi phí dịch vụ.
5. Tiếp nhận viện trợ và phát triển các quỹ tài chính
- Quyền quyết định tiếp nhận viện trợ: Ủy ban nhân dân thành phố được quyền quyết định tiếp nhận các khoản viện trợ không hoàn lại dành cho Thành phố mà không bị giới hạn bởi quy mô viện trợ. Riêng đối với các khoản viện trợ liên quan đến lĩnh vực tôn giáo, quốc phòng, an ninh, Thành phố phải báo cáo và được sự đồng ý của Thủ tướng Chính phủ trước khi tiếp nhận.
- Trách nhiệm quản lý viện trợ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố chịu trách nhiệm toàn diện về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn viện trợ, thực hiện hạch toán, quyết toán theo quy định và báo cáo định kỳ cho Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
- Phát triển Quỹ Đầu tư phát triển đô thị: Ủy ban nhân dân thành phố có trách nhiệm tiếp tục củng cố, phát triển "Quỹ Đầu tư phát triển đô thị" cùng các quỹ tài chính hợp pháp khác nhằm thu hút, huy động tối đa nguồn vốn đóng góp từ các thành phần kinh tế, tổ chức và cá nhân cho đầu tư phát triển đô thị.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 124/2004/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Nghị định này bãi bỏ các quy định tại Điều 17, Điều 18 và Điều 19 của Nghị định số 93/2001/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2001 của Chính phủ về phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho thành phố Hồ Chí Minh. Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành; các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 124/2004/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2004 |
CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Điều 75 Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002;
Căn cứ Công văn số 212/NQ-UBTVQH11 ngày 22 tháng 3 năm 2004 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,
NGHỊ ĐỊNH:
VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố Hồ Chí Minh được phân cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước. Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp thuộc Thành phố (thành phố, quận, huyện, phường, xã) theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, phù hợp với tình hình thực tế và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toán xã hội của Thành phố. Riêng đối với ngân sách xã, thị trấn thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Ngân sách nhà nước.
Nhà nước ưu tiên đầu tư về ngân sách và các nguồn tài chính khác cho phát triển kinh tế xã hội Thành phố để Thành phố thực hiện vai trò trung tâm kinh tế - xã hội của khu vực và cả nước.
2. Hàng năm, căn cứ vào dự toán ngân sách được Thủ tướng Chính phủ giao và hướng dẫn của Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định: Dự toán thu, chi ngân sách thành phố; phân bổ nhiệm vụ thu, chi cho từng cơ quan, đơn vị thuộc ngân sách cấp Thành phố; số bổ sung từ ngân sách thành phố cho ngân sách cấp dưới phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố; đồng thời đảm bảo thực hiện định hướng chung của ngân sách nhà nước.
3. Để sử dụng có hiệu quả quỹ đất thuộc Thành phố quản lý, Uỷ ban nhân dân thành phố được tạm ứng từ nguồn ngân sách thành phố hoặc từ nguồn huy động theo chế độ quy định cho các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật thuộc nhiệm vụ đầu tư của ngân sách để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, sau khi thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất sẽ thu hồi hoàn trả ngân sách hoặc hoàn trả nguồn vốn huy động.
Điều 2. Tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu giữa ngân sách trung ương và ngân sách thành phố do Chính phủ trình Ủy ban thưường vụ Quốc hội quyết định; thời gian ổn định tỷ lệ phần trăm phân chia này do Chính phủ trình Quốc hội quyết định.
1. Hàng năm, trong trường hợp có số tăng thu ngân sách trung ương so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách thành phố theo quy định tại khoản 2 Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước, ngân sách thành phố được thưởng 30% của số tăng thu này, nhưng không vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước.
3. Căn cứ số được thưởng và số bổ sung có mục tiêu từ nguồn tăng thu quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này, Ủy ban nhân dân thành phố trình Hội đồng nhân dân thành phố quyết định : Đầu tưưư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng; trả nợ các khoản vốn huy động; thực hiện các nhiệm vụ quan trọng nhằm phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội của Thành phố và thưưưởng cho ngân sách cấp dưới.
VỀ HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN TÀI CHÍNH CHO ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2. Việc bố trí vốn đầu tư cho các dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được thực hiện theo nguyên tắc:
a) Đối với dự án ODA do ngân sách nhà nước đầu tư:
ư- Đối với dự án, công trình do Bộ, cơ quan trung ương làm chủ dự án, công trình, việc bố trí vốn (bao gồm cả vốn đối ứng) do ngân sách trung ương bảo đảm.
ư- Đối với dự án, công trình do Ủy ban nhân dân thành phố làm chủ dự án, công trình, Thành phố có trách nhiệm bố trí từ nguồn ngân sách địa phương để bảo đảm phần vốn đối ứng của dự án.
b) Đối với dự án ODA vay về cho vay lại, ưu tiên bố trí vốn cho các dự án, công trình đầu tư có khả năng thu hồi vốn, các dự án sản xuất các mặt hàng xuất khẩu có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường quốc tế.
3. Mức hỗ trợ cụ thể về vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn thực hiện các chương trình, dự án cho Thành phố, trên cơ sở đề nghị của Thành phố và ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Chính phủ cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm trình Quốc hội quyết định theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.
2. Thành phố được huy động vốn vay ngoài nước cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách thành phố theo nguyên tắc: Thành phố xây dựng phương án, chủ động tìm nguồn vay, lấy ý kiến Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trước khi trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định theo cơ chế Chính phủ vay về cho thành phố vay lại để thực hiện các dự án, công trình theo đề nghị của Ủy ban nhân dân thành phố. Thành phố có trách nhiệm bố trí từ ngân sách địa phương để hoàn trả gốc và lãi theo quy định của pháp luật.
Điều 6. Việc huy động vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách thành phố quy định tại
1. Căn cứ nhu cầu huy động vốn đầu tư, Ủy ban nhân dân thành phố lập phương án báo cáo Hội đồng nhân dân thành phố quyết định theo quy định của pháp luật.
2. Vốn huy động đầu tư cho các công trình, dự án bảo đảm nguyên tắc: công trình, dự án sử dụng vốn huy động để đầu tư phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội; công trình, dự án đầu tư thuộc danh mục đầu tư trong kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng nhân dân thành phố quyết định; dự án, công trình đã có quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền; Thành phố phải bố trí cân đối ngân sách địa phương để trả hết nợ khi đến hạn.
Điều 8. Ủy ban nhân dân thành phố được quyền quyết định tiếp nhận các khoản viện trợ không hoàn lại cho Thành phố không phụ thuộc vào quy mô viện trợ; riêng đối với các khoản viện trợ có liên quan đến tôn giáo, quốc phòng, an ninh, phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố chịu trách nhiệm thực hiện việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng có hiệu quả các khoản viện trợ này, thực hiện chế độ hạch toán, quyết toán theo đúng quy định của pháp luật; định kỳ báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch Đầu tư để theo dõi, giám sát và tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
Điều 9. Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm tiếp tục củng cố và phát triển "Quỹ Đầu tư phát triển đô thị" và các quỹ tài chính khác theo quy định của pháp luật để huy động sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế, các tổ chức và cá nhân cho ngân sách thành phố, nhằm tăng cường khả năng thu hút các nguồn vốn cho đầu tư phát triển Thành phố.
1. Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn tổ chức thực hiện Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
2. Nghị định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo; Bãi bỏ các Điều 17, 18 và 19 của Nghị định số 93/2001/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2001 của Chính phủ về phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho thành phố Hồ Chí Minh.
| Phan Văn Khải (Đã ký) |
- 1Nghị định 93/2001/NĐ-CP quy định phân cấp quản lý một số lĩnh vực cho thành phố Hồ Chí Minh
- 2Nghị định 61/2014/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 124/2004/NĐ-CP về cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh
- 3Nghị định 48/2017/NĐ-CP quy định cơ chế, chính sách tài chính - ngân sách đặc thù đối với Thành phố Hồ Chí Minh do Chính phủ ban hành
- 1Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 2Luật Ngân sách Nhà nước 2002
- 3Nghị định 60/2003/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Ngân sách nhà nước
- 4Thông tư 52/2004/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 124/2004/NĐ-CP về một số cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh do Bộ Tài chính ban hành
- 5Nghị định 112/2015/NĐ-CP sửa đổi Quy định về cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với Thủ đô Hà Nội tại Điều 5 Nghị định 123/2004/NĐ-CP
Nghị định 124/2004/NĐ-CP quy định cơ chế tài chính ngân sách đặc thù đối với thành phố Hồ Chí Minh
- Số hiệu: 124/2004/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 18/05/2004
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 18
- Ngày hiệu lực: 10/06/2004
- Ngày hết hiệu lực: 10/06/2017
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
