Nghị định 112-HĐBT năm 1984 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định về việc thu thủy lợi phí nhằm mục đích quản lý, khai thác và bảo vệ tốt các công trình thủy nông, bảo đảm hoàn trả một phần chi phí đầu tư và duy trì hoạt động của hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định này áp dụng đối với mọi tổ chức và cá nhân được hưởng lợi từ các dịch vụ tưới nước, tiêu nước hoặc các dịch vụ khác từ các công trình thủy nông do Nhà nước quản lý. Các đối tượng này đều có nghĩa vụ phải trả thủy lợi phí cho các xí nghiệp thủy nông trực tiếp quản lý và vận hành công trình.
Các nội dung chính sách cốt lõi của Nghị định:
1. Cơ cấu cấu thành thủy lợi phí
Thủy lợi phí được xác định bao gồm các khoản chi phí thực tế để duy trì và vận hành hệ thống công trình thủy nông, cụ thể:
- Khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn và chi phí sửa chữa thường xuyên đối với các loại máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vận tải và các phương tiện khác phục vụ quản lý, khai thác công trình (ngoại trừ khấu hao cơ bản của các máy bơm lớn).
- Chi phí sửa chữa lớn, tu bổ và sửa chữa thường xuyên các công trình xây đúc và công trình bằng đất (không tính phần nhân công do nhân dân tự đóng góp).
- Chi phí về điện năng, xăng dầu phục vụ vận hành máy móc thiết bị đầu mối và hệ thống dẫn nước.
- Chi phí tiền lương, phụ cấp cho cán bộ, công nhân viên và các chi phí quản lý hành chính của xí nghiệp thủy nông.
- Để hỗ trợ giảm nhẹ gánh nặng cho ngành nông nghiệp, Nhà nước tạm thời chưa tính vào thủy lợi phí khoản khấu hao cơ bản của các công trình xây đúc, công trình đất và các máy bơm lớn. Khoản này được xem như một hình thức trợ cấp của Nhà nước; việc trang bị mới hoặc thay thế máy bơm lớn sẽ do ngân sách Trung ương cấp thông qua kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm.
2. Nguyên tắc phân bổ thủy lợi phí
Việc phân bổ mức thủy lợi phí trên một đơn vị diện tích đất hưởng lợi phải tuân thủ các nguyên tắc công bằng và thực tế sau:
- Căn cứ vào mức độ phục vụ tưới tiêu của từng công trình: Phân biệt rõ giữa diện tích được tưới tiêu chủ động hoàn toàn, diện tích mới chủ động được một phần, hoặc diện tích chỉ mới được tạo nguồn nước tưới, mở đường nước tiêu.
- Căn cứ vào điều kiện tự nhiên và chi phí thực tế của từng công trình trong từng vụ sản xuất: Áp dụng linh hoạt cơ chế điều hòa, cho phép thu thủy lợi phí cao hơn một chút ở những vùng có điều kiện thuận lợi (chi phí thấp) để bù đắp cho những vùng khó khăn (chi phí cao); hoặc thu theo mức bình thường trong năm thời tiết thuận lợi để dự phòng cho những năm thiên tai, chi phí tăng cao.
- Căn cứ vào hiệu quả dịch vụ tưới tiêu, thể hiện trực tiếp qua năng suất và sản lượng của ruộng đất được hưởng lợi.
3. Phương thức tính và quy đổi thủy lợi phí
Thủy lợi phí được lấy thóc làm đơn vị tính toán chuẩn:
- Đối với diện tích đất trồng cây lương thực: Thực hiện thu trực tiếp bằng thóc (hoặc các loại lương thực khác quy đổi tương đương).
- Đối với các trường hợp thu bằng tiền: Áp dụng cho diện tích trồng cây phi lương thực (rau, màu, cây công nghiệp, cây lâu năm); các dịch vụ thủy lợi phi nông nghiệp; hoặc các hộ nông dân, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất có sản lượng lương thực tự cân đối chưa vượt quá mức tối thiểu cần thiết theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
- Giá trị quy đổi từ thóc ra tiền: Đối với hộ dân và tổ chức kinh tế tập thể, tính theo giá mua thỏa thuận do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định tại vụ sản xuất đó. Đối với các tổ chức kinh tế quốc doanh và cơ quan Nhà nước, tính theo giá chỉ đạo thu mua của Nhà nước.
4. Mức thu thủy lợi phí cụ thể
Mức thu thủy lợi phí đối với diện tích trồng lúa được tưới tiêu chủ động được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên sản lượng trung bình của ruộng đất, phân chia theo các vụ và biện pháp công trình:
- Tưới và tiêu bằng trọng lực (tự chảy): Vụ Đông Xuân thu từ 4% đến 6,5%; Vụ Hè Thu thu từ 4,5% đến 7%; Vụ Mùa thu từ 3% đến 5,5%.
- Tưới bằng bơm điện, tiêu bằng trọng lực: Vụ Đông Xuân thu từ 4,5% đến 7%; Vụ Hè Thu thu từ 5% đến 7,5%; Vụ Mùa thu từ 3,5% đến 6%.
- Tưới và tiêu hoàn toàn bằng bơm điện: Vụ Đông Xuân thu từ 5% đến 7,5%; Vụ Hè Thu thu từ 5,5% đến 8%; Vụ Mùa thu từ 4% đến 6,5%.
- Các trường hợp đặc thù khác: Diện tích mới chủ động tưới tiêu một phần thu bằng 70% - 80% mức chuẩn; diện tích mới tạo nguồn hoặc mở đường tiêu thu bằng 50% - 70% mức chuẩn; diện tích lợi dụng thủy triều thu bằng 70% mức tưới tiêu bằng trọng lực; diện tích phải tưới bằng bơm dầu suốt vụ thu bằng 120% mức tưới tiêu bằng bơm điện.
- Đối với cây trồng khác: Diện tích trồng rau, màu, cây công nghiệp ngắn ngày (kể cả cây vụ đông) và cây lâu năm có yêu cầu tưới tiêu thì mức thu bằng 40% mức thu của đất trồng lúa tương ứng. Trường hợp tưới bằng nước ngầm hoặc tưới phun, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định mức thu riêng phù hợp thực tế.
- Dịch vụ giao thông và thủy sản: Vận tải đường thủy qua cầu, cống thuộc hệ thống thủy nông thu từ 5 đến 30 kg thóc/chuyến tùy tải trọng phương tiện. Kinh doanh nuôi trồng thủy sản thu từ 5 đến 10 kg thóc/năm trên mỗi hécta mặt nước sử dụng.
5. Chế độ thưởng, phạt và miễn giảm thủy lợi phí
Nghị định thiết lập cơ chế ràng buộc trách nhiệm hai chiều giữa đơn vị cung cấp dịch vụ và hộ sử dụng nước thông qua hợp đồng kinh tế:
- Chế độ thưởng phạt: Nếu xí nghiệp thủy nông không bảo đảm tiêu chuẩn, định mức tưới tiêu ghi trong hợp đồng gây ảnh hưởng xấu đến sản xuất thì sẽ bị phạt và giảm thủy lợi phí tương ứng. Ngược lại, nếu phục vụ tốt vượt tiêu chuẩn giúp tăng năng suất cây trồng thì xí nghiệp được thưởng tăng thủy lợi phí. Các điều khoản này phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng kinh tế ký kết đầu vụ.
- Chế độ miễn giảm do thiên tai: Trường hợp thiên tai gây thiệt hại cho mùa màng, mức miễn giảm thủy lợi phí do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định dựa trên mức độ thiệt hại thực tế: Thiệt hại từ 30% đến dưới 50% được giảm 30% phí; thiệt hại từ 50% đến dưới 70% được giảm 50% phí; thiệt hại từ 70% trở lên được miễn 100% thủy lợi phí.
6. Công tác tổ chức thu và quản lý tài chính
Quy trình lập kế hoạch, thu nộp và hạch toán tài chính được quy định chặt chẽ:
- Hàng năm và từng vụ, xí nghiệp thủy nông cùng hộ sử dụng nước ký kết hợp đồng kinh tế. Cuối vụ, hai bên tiến hành nghiệm thu, xác định số phí phải nộp, lập sổ thu trình Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt trước khi tổ chức thu.
- Sở Thủy lợi tổng hợp kế hoạch thu toàn tỉnh trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt để giao chỉ tiêu cho các huyện, ngành lương thực và ngành tài chính. Việc thu thủy lợi phí được thực hiện đồng thời với thu thuế nông nghiệp và thu mua lương thực tại xã, hợp tác xã.
- Toàn bộ số thủy lợi phí thu bằng thóc phải giao cho ngành lương thực tiếp nhận trực tiếp. Ngành lương thực có trách nhiệm thanh toán lại cho xí nghiệp thủy nông bằng tiền theo giá chỉ đạo thu mua của Nhà nước. Đối với phần thủy lợi phí thu bằng tiền, xí nghiệp thủy nông được trực tiếp thu và quản lý.
- Các xí nghiệp thủy nông thực hiện hạch toán kinh tế độc lập. Nguồn thu phải được sử dụng tiết kiệm, có trích lập quỹ dự phòng thiên tai. Riêng khoản thu từ khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chữa lớn phải nộp tập trung vào Quỹ thủy nông của tỉnh.
7. Thành lập và sử dụng Quỹ thủy nông cấp tỉnh
Quỹ thủy nông cấp tỉnh được hình thành từ nguồn khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn của các xí nghiệp và khoản điều tiết từ các đơn vị có điều kiện thuận lợi. Quỹ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý (hoặc ủy quyền cho Sở Thủy lợi quản lý) nhằm sử dụng vào các mục đích:
- Thực hiện sửa chữa lớn, nâng cấp công trình và đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị thủy nông trong phạm vi tỉnh.
- Hỗ trợ, điều hòa kinh phí cho các xí nghiệp thủy nông gặp khó khăn khách quan không tự cân đối được thu chi.
- Dự phòng kinh phí cho các năm xảy ra thiên tai, dịch bệnh làm giảm nguồn thu nhưng tăng chi phí vận hành.
- Trường hợp quỹ chưa tập trung đủ vốn cho nhu cầu cấp bách, ngân sách địa phương sẽ tạm ứng hoặc trợ cấp. Nếu quỹ có kết dư sau khi đã bảo đảm các nhiệm vụ chi và dự phòng, Ủy ban nhân dân tỉnh được quyền huy động để đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy nông địa phương.
Hiệu lực thi hành
Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ vụ mùa năm 1984. Tất cả các quy định trước đây của Trung ương và địa phương về thủy lợi phí trái với Nghị định này đều bãi bỏ. Các Bộ trưởng Bộ Thủy lợi, Tài chính, Lương thực, Điện lực có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 112-HĐBT | Hà Nội, ngày 25 tháng 8 năm 1984 |
CỦA HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG 112-HĐBT NGÀY 25 THÁNG 8 NĂM 1984 VỀ VIỆC THU THUỶ LỢI PHÍ
HỘI ĐỒNG BỘ TRƯỞNG
Để bảo đảm duy trì và khai thác tốt các công trình thuỷ nông bằng sự đóng góp công bằng, hợp lý của những diện tích được hưởng lợi về nước;
Để tạo điều kiện cho các xí nghiệp quản lý và khai thác thuỷ nông (dưới đây gọi tắt là xí nghiệp thủy nông) thực hiện hạch toán kinh tế, nâng cao hiệu quả phục vụ, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu tưới tiêu của sản xuất nông nghiệp.
Để đề cao trách nhiệm của các cấp chính quyền và nhân dân trong việc bảo vệ, quản lý, sử dụng tốt các công trình thuỷ nông;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Thuỷ lợi, Bộ trưởng Bộ Tài chính,
NGHỊ ĐỊNH:
Điều 2. Thuỷ lợi phí gồm các khoản:
a) Khấu hao cơ bản, khấu hao sửa chữa lớn và chi phí sửa chữa thường xuyên các máy móc, thiết bị, nhà xưởng, kho tàng, phương tiện vận tải và các phương tiện khác dùng vào việc duy trì, khai thác và quản lý các công trình thuỷ nông, không kể khấu hao cơ bản các máy bơm lớn;
b) Chi phí sửa chữa lớn, tu bổ, sửa chữa thường xuyên các công trình xây dựng đúc và bằng đất, ngoài số nhân công do nhân dân đóng góp;
c) Chi phí về điện và xăng dầu;
d) Chi lương cho cán bộ, nhân viên và chi phí quản lý của các xí nghiệp thuỷ nông.
Để giảm nhẹ thuỷ lợi phí, tạm thời chưa tính khấu hao cơ bản các công trình xây đúc và bằng đất và khấu hao cơ bản các máy bơm lớn, xem đây như một khoản trợ cấp của Nhà nước đối với nông nghiệp. Khi cần trang bị thêm hoặc thay thế các máy bơm lớn, ngân sách Trung ương cấp trực tiếp cho Bộ Thuỷ lợi qua kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm.
a) Phải tính đến mức độ phục vụ tưới nước, tiêu nước của từng công trình (tưới tiêu chủ động hoặc mới chủ động một phần, hoặc mới tạo nguồn nước tưới, mở đường nước tiêu).
b) Phải tính đến điều kiện và chi phí tưới nước, tiêu nước của từng công trình, trong từng vụ sản xuất.
Nguyên tắc này cần được vận dụng linh hoạt đối với những công trình có điều kiện tự nhiên thuận lợi, chi phí tương đối thấp, có thể thu thuỷ lợi phí cao hơn một chút so với chi phí thực tế để bù cho những công trình mà điều kiện tự nhiên không thuận lợi, chi phí cao, năm thời tiết thuận, chi phí thấp, vẫn thu thuỷ lợi phí theo mức bình thường để bù cho những năm thời tiết không thuận, chi phí cao.
c) Phải tính đến hiệu quả của dịch vụ tưới nước, tiêu nước, thể hiện ở năng suất của ruộng đất.
Điều 4. Thuỷ lợi phí tính bằng thóc.
Đối với những diện tích trồng cây lương thực thì thu bằng thóc (hoặc lương thực khác).
Đối với những trường hợp sau đây thì thu bằng tiền: những diện tích trồng các loại cây không phải là cây lương thực; các dịch vụ thuỷ lợi không có liên quan đến trồng trọt; những hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, hộ nông dân cá thể tuy sản xuất lương thực nhưng cân đối lương thực chưa vượt quá mức tối thiểu cần thiết do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu (dưới đây gọi tắt là tỉnh) quy định. Thuỷ lợi phí thu bằng tiền là số thóc phải trả tính theo giá mua thỏa thuận do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định cho vụ sản xuất đó. Riêng đối với các tổ chức kinh tế quốc doanh và các cơ quan Nhà nước thì tính theo giá chỉ đạo thu mua của Nhà nước.
| Vụ đông xuân | Vụ hè thu | Vụ mùa | |
| A. Tưới và tiêu bằng trọng lực | 4-6.5% | 4.5-7% | 3-5.5% |
| B. Tưới bằng bơm điện, tiêu bằng trọng lực |
|
|
|
| C. Tưới và tiêu bằng bơm điện | 5-7.5% | 5.5-8% | 4-6.5% |
Trong trường hợp tưới tiêu mới chủ động một phần thì thu bằng 70-80% mức trên.
Trong trường hợp mới tạo nguồn nước tưới hoặc mở đường nước tiêu thì thu bằng 50-70% mức trên.
Đối với vụ hè thu, ở những nơi mưa đều, tưới ít thì thu bằng 90% mức trên (mức quy định cho vụ hè thu).
Trong trường hợp lợi dụng thuỷ triều để tưới tiêu thì thu bằng 70% mức thu ở điểm A, Điều 5 trên.
Trong trường hợp phải tưới bằng bơm dầu suốt vụ thì thu bằng 120% mức thu ở điểm C, Điều 5 trên.
Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ mức tối thiểu và tối đa trên đây, quy định mức thu cụ thể ở địa phương.
Trong trường hợp tưới bằng nguồn nước ngầm hoặc tưới phun thì Uỷ ban nhân dân tỉnh căn cứ vào tình hình cụ thể mà quy định mức thu thích hợp.
Nếu việc phục vụ tưới tiêu đạt chất lượng cao, làm tăng hiệu quả sản xuất của bên sử dụng nước thì xí nghiệp thuỷ nông được thưởng thuỷ lợi phí tăng lên tương ứng.
Các điều kiện thưởng và phạt được xác định cụ thể trong hợp đồng. Phải thông qua hợp đồng mà nâng cao dần trình độ phục vụ của các xí nghiệp thuỷ nông, từng bước hoàn thiện quy trình tưới tiêu theo phương pháp khoa học.
Thiệt hại từ 30% đến dưới 50% thì giảm 30%.
Thiệt hại từ 50% đến dưới 70% thì giảm 50%
Thiệt hại từ 70% trở lên thì miễn.
Việc miễn giảm do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định.
Uỷ ban nhân dân tỉnh giao chỉ tiêu kế hoạch thu thuỷ lợi phí hàng năm và từng vụ cho Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, cho ngành lương thực (nhập kho số thóc thuỷ lợi phí), cho ngành tài chính và các cơ quan khác có liên quan.
Chỉ tiêu kế hoạch về thuỷ lợi phí phải được Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã giao đến tận xã, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và phải được thực hiện cùng một lú với việc thu thuế nông nghiệp và thu mua lương thực.
Số thủy lợi phí bằng tiền thì do các xí nghiệp thủy nông trực tiếp thu của các tổ chức và cá nhân được hưởng dịch vụ về thuỷ lợi.
Những xí nghiệp quản lý từng nhánh của một hệ thống thuỷ nông liên tỉnh, liên huyện phải trích nộp một phần nguồn thu của mình cho xí nghiệp quản lý công trình đầu mối của cả hệ thống.
Uỷ ban nhân dân tỉnh, nếu xét cần thiết và trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc hạch toán kinh tế của các xí nghiệp thuỷ nông, có thể điều hòa nguồn thu giữa các xí nghiệp thuỷ nông do tỉnh quản lý nhằm hỗ trợ cho những xí nghiệp do khó khăn về điều kiện khách quan mà nguồn thu không đủ bảo đảm các nhu cầu chi.
Nếu do miễn giảm thuỷ lợi phí hoặc do thiên tai, chi phí tăng mà nguồn thu và nguồn dự trữ của xí nghiệp không đủ bảo đảm các nhu cầu chi tối thiểu cần thiết thì ngân sách địa phương (ngân sách tỉnh hoặc ngân sách huyện) trợ cấp đặc biệt.
Nếu do khuyết điểm của xí nghiệp mà nguồn thu bị giảm, chi phí tăng thì xí nghiệp phải gánh chịu mọi hậu quả.
Gặp trường hợp cần tiến hành đổi mới máy móc, thiết bị hoặc sửa chữa lớn các công trình trong khi quỹ thuỷ nông của tỉnh chưa tập hợp được đủ số vốn cần thiết thì ngân sách địa phương tạm ứng hoặc trợ cấp. Trong trường hợp quỹ thuỷ nông sau khi đã sử dụng vào các mục đích quy định và dành phần dự phòng cần thiết mà vẫn còn dư thì Uỷ ban nhân dân tỉnh được quyền huy động để đầu tư vào việc hoàn thiện, nâng cao các công trình thuỷ nông trong tỉnh.
Điều 16. Nghị định này thi hành từ vụ mùa năm 1984.
Tất cả những quy định trước đây về thuỷ lợi phí của Trung ương cũng như của địa phương đều bãi bỏ.
Bộ trưởng các Bộ Thuỷ lợi, Tài chính, Lương thực, Điện lực hướng dẫn thi hành Nghị định này.
| Tố Hữu (Đã ký) |
- 1Nghị định 66-CP năm 1962 ban hành điều lệ thu thủy lợi phí do Hội Đồng Chính Phủ ban hành
- 2Thông tư liên tịch 47-TT/LB năm 1984 hướng dẫn thi hành nghị định 112-HĐBT về việc thu thuỷ lợi phí do Bộ Tài chính; Bộ Thuỷ lợi ban hành
- 3Thông tư liên bộ 08-TT/LB năm 1980 về việc thu thuỷ lợi phí bằng hiện vật do Bộ Tài chính - Bộ Thuỷ lợi ban hành
Nghị định 112-HĐBT năm 1984 về việc thu thủy lợi phí do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
- Số hiệu: 112-HĐBT
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 25/08/1984
- Nơi ban hành: Hội đồng Bộ trưởng
- Người ký: Tố Hữu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 16
- Ngày hiệu lực: 09/09/1984
- Ngày hết hiệu lực: 19/12/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
