Nghị định 109/2005/NĐ-CP do Chính phủ ban hành nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 về bảo hiểm tiền gửi. Văn bản này tập trung điều chỉnh các quy định về đối tượng tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc, phạm vi tiền gửi được bảo hiểm, hạn mức chi trả, mức phí bảo hiểm, cũng như các biện pháp hỗ trợ tài chính và quy trình xử lý chi trả tiền bảo hiểm nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, ngân hàng.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Nghị định áp dụng đối với các tổ chức tín dụng và các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng nhưng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, văn bản cũng áp dụng đối với tổ chức bảo hiểm tiền gửi, người gửi tiền và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam.
Quy định về đối tượng bắt buộc và nghĩa vụ niêm yết công khai
- Tất cả các tổ chức tín dụng và tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân đều phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc.
- Các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ phải niêm yết công khai việc tham gia bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở chính cũng như tại tất cả các địa điểm giao dịch của mình để người gửi tiền dễ dàng nhận biết.
Phạm vi tiền gửi được bảo hiểm và các trường hợp loại trừ
- Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam (VND) của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
- Các trường hợp không được bảo hiểm tiền gửi bao gồm:
- Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc nắm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của chính tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó.
- Tiền gửi của các thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó.
- Tiền gửi được sử dụng để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ của chính người gửi tiền.
- Tiền mua các loại giấy tờ có giá, ngoại trừ một số loại giấy tờ có giá cụ thể theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi tối đa
- Số tiền bảo hiểm được chi trả cho tất cả các khoản tiền gửi (bao gồm cả gốc và lãi) của một người gửi tiền (một cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp theo pháp luật) tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi tối đa là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).
- Thẩm quyền thay đổi số tiền bảo hiểm tối đa thuộc về Thủ tướng Chính phủ, quyết định trên cơ sở đề nghị của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và ý kiến thống nhất của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng Bộ Tài chính.
Mức phí bảo hiểm tiền gửi và phương thức hạch toán
- Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm tiền gửi định kỳ với mức phí là 0,15%/năm tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm.
- Khoản phí bảo hiểm tiền gửi này được hạch toán trực tiếp vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
- Việc điều chỉnh mức phí bảo hiểm tiền gửi theo từng loại hình tổ chức hoặc dựa trên kết quả đánh giá, xếp loại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định dựa trên đề xuất của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính.
Cơ chế hỗ trợ tài chính đặc biệt cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi
- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phép hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn dưới các hình thức: cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ và các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật. Quyết định hỗ trợ do Hội đồng quản trị của tổ chức bảo hiểm tiền gửi xem xét và thông qua.
- Điều kiện hỗ trợ tài chính: Chỉ được xem xét, quyết định sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định rằng việc giải thể hoặc phá sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó có nguy cơ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, sâu rộng đến sự an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng cũng như sự ổn định chính trị, kinh tế - xã hội.
- Thứ tự ưu tiên hoàn trả: Khoản hỗ trợ tài chính này được coi là biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh và sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của tổ chức nhận hỗ trợ.
Quy trình, thủ tục chi trả tiền bảo hiểm và xử lý tài sản
- Thời hạn chi trả: Trong vòng 60 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản yêu cầu tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi chấm dứt các giao dịch để tiến hành thanh lý tài sản, hoặc kể từ ngày Tòa án thông báo quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản theo pháp luật về phá sản.
- Xử lý phần tiền gửi vượt hạn mức: Đối với số tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) vượt quá mức tối đa 50 triệu đồng, người gửi tiền sẽ được nhận lại trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức đó theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản.
- Phương thức thực hiện: Tổ chức bảo hiểm tiền gửi trực tiếp tiến hành chi trả hoặc ủy quyền cho một tổ chức tín dụng khác thực hiện thông qua hợp đồng ủy quyền.
- Căn cứ chi trả: Dựa trên danh sách người gửi tiền do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lập và được tổ chức bảo hiểm tiền gửi xét duyệt dựa trên các chứng từ hợp lệ.
- Thời hạn đòi quyền lợi: Sau 10 ngày kể từ ngày có thông báo đầu tiên về việc chi trả, những khoản tiền bảo hiểm không có người nhận sẽ được bổ sung vào nguồn vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Sau thời hạn này, người có quyền sở hữu khoản tiền gửi sẽ không còn quyền đòi tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả số tiền đó.
Quyền hạn và địa vị pháp lý của tổ chức bảo hiểm tiền gửi
- Sau khi tiến hành chi trả tiền bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tiền gửi sẽ trở thành chủ nợ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đối với số tiền đã chi trả.
- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phân chia giá trị tài sản theo thứ tự thanh toán tương tự như đối với người gửi tiền trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị buộc giải thể do mất khả năng thanh toán hoặc bị phá sản.
- Đồng thời, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có quyền tham gia trực tiếp vào quá trình quản lý và thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị giải thể hoặc phá sản.
Cơ chế huy động vốn khẩn cấp
- Trong trường hợp nguồn vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi tạm thời không đủ để hỗ trợ tài chính hoặc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phép huy động vốn thông qua các hình thức:
- Vay hoặc tiếp nhận nguồn vốn hỗ trợ đặc biệt từ Chính phủ.
- Phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật về phát hành trái phiếu.
- Vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác dưới sự bảo lãnh của Chính phủ.
Hiệu lực thi hành
Nghị định 109/2005/NĐ-CP có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm chính trong việc hướng dẫn thi hành các quy định tại Nghị định này. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, cùng Chủ tịch Hội đồng quản trị của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi chịu trách nhiệm thi hành nghiêm túc các điều khoản đã được ban hành.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 109/2005/NĐ-CP | Hà Nội, ngày 24 tháng 8 năm 2005 |
VỀ VIỆC SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 89/1999/NĐ-CP NGÀY 01 THÁNG 9 NĂM 1999 CỦA CHÍNH PHỦ VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
NGHỊ ĐỊNH
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12 tháng 12 năm 1997 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng số 20/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004;
Theo đề nghị của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
CHÍNH PHỦ
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 1999 của Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi như sau:
1.
“1. Các tổ chức tín dụng và tổ chức không phải là tổ chức tín dụng được phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng có nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân phải tham gia bảo hiểm tiền gửi bắt buộc.
2. Các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phải niêm yết công khai về việc tham gia bảo hiểm tiền gửi tại trụ sở và các địa điểm giao dịch.”.
2.
“Tiền gửi được bảo hiểm là tiền gửi bằng đồng Việt Nam của người gửi tiền là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh gửi tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi, trừ những trường hợp sau đây:
a) Tiền gửi của người gửi tiền là cổ đông sở hữu trên 10% vốn điều lệ hoặc năm giữ trên 10% vốn cổ phần có quyền bỏ phiếu của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó;
b) Tiền gửi của người gửi tiền là thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc) của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó;
c) Tiền gửi dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người gửi tiền;
d) Tiền mua các giấy tờ có giá, trừ một số giấy tờ có giá theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”.
3.
“1. Số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm cả gốc và lãi của một người gửi tiền (một cá nhân hoặc người đại diện hợp pháp luật) tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi thuộc đối tượng quy định tại Điều 3 của Nghị định này, tối đa là 50 (năm mươi) triệu đồng.
2. Việc thay đổi số tiền bảo hiểm tối đa quy định tại khoản 1 Điều này do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính.”.
4.
“1. Phí bảo hiểm tiền gửi là khoản tiền mà tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có nghĩa vụ nộp cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi để được bảo hiểm cho tiền gửi của khách hàng. Phí bảo hiểm tiền gửi được hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
3. Việc điều chỉnh mức phí bảo hiểm tiền gửi quy định tại khoản 2 Điều này theo loại hình tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi hoặc trên cơ sở đánh giá, xếp loại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền do Thủ tướng Chính phủ quyết định trên cơ sở đề nghị của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và ý kiến của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính.”.
5.
“1. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi dưới các hình thức cho vay, bảo lãnh, mua lại nợ và các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.
2. Việc hỗ trợ tài chính nêu tại khoản 1 Điều này do Hội đồng quản trị tổ chức bảo hiểm tiền gửi xem xét quyết định.”.
6.
“1. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi chỉ xem xét, quyết định việc hỗ trợ tài chính cho tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định tại Điều 14 sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xác định rằng việc giải thể, phá sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng, sâu rộng đến sự an toàn của hệ thống tài chính, ngân hàng và sự ổn định chính trị, kinh tế - xã hội.
2. Việc thực hiện hỗ trợ tài chính nêu tại khoản 1 Điều này được coi là việc tổ chức bảo hiểm tiền gửi áp dụng biện pháp đặc biệt về tài sản để phục hồi hoạt động kinh doanh của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. Khoản hỗ trợ tài chính này sẽ được ưu tiên hoàn trả trước tất cả các khoản nợ khác của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.”.
7.
“1. Đối với tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn, trong vòng 60 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản yêu cầu tổ chức này chấm dứt các giao dịch để tiến hành thanh lý tài sản hoặc kể từ ngày Toà án thông báo quyết định mở thủ tục thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật về phá sản, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm tiến hành chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi đó theo nguyên tắc được quy định tại điều 4 của Nghị định này đồng thời làm thủ tục ra quyết định chấm dứt bảo hiểm tiền gửi.
2. Số tiền gửi (gồm cả gốc và lãi) vượt quá mức tối đa được tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả sẽ được trả cho người gửi tiền trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi phù hợp với quy định của pháp luật về giải thể, phá sản.”.
8.
“Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền do tổ chức bảo hiểm tiền gửi tực tiếp tiến hành hoặc Ủy quyền cho tổ chức tín dụng thực hiện trên cơ sở hợp đồng Ủy quyền theo quy định của pháp luật.”.
9.
“1. Việc chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền hoặc người đại diện, người thừa kế của người gửi tiền theo quy định của pháp luật phải căn cứ vào danh sách những người gửi tiền do tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lập, được tổ chức bảo hiểm tiền gửi xét duyệt trên cơ sở các chứng từ hợp lệ.
2. Sau thời gian 10 (mười) ngày kể từ ngày tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thông báo đầu tiên về việc chi trả tiền bảo hiểm, những khoản tiền bảo hiểm không có người nhận sẽ được bổ sung vào nguồn vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và người có quyền sở hữu khoản tiền gửi được bảo hiểm sẽ không còn quyền đòi tổ chức bảo hiểm tiền gửi chi trả số tiền bảo hiểm đó.
3. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi có trách nhiệm ban hành quy định về hồ sơ, thủ tục và trình tự chi trả tiền bảo hiểm.”.
10.
“Trong trường hợp vốn hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi tạm thời không đủ để hỗ trợ các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi gặp khó khăn về khả năng chi trả hoặc để chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị buộc giải thể do không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn hoặc bị phá sản theo quy định tại Điều 16 của Nghị định này, tổ chức bảo hiểm tiền gửi có thể huy động vốn theo các hình thức sau:
a) Vay hoặc tiếp nhận vốn hỗ trợ đặc biệt của Chính phủ;
b) Phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật về việc phát hành trái phiếu;
c) Vay của tổ chức tín dụng hoặc tổ chức khác có bảo lãnh của Chính phủ”.
11.
“Tổ chức bảo hiểm tiền gửi trở thành chủ nợ của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi với số tiền bảo hiểm đã chi trả. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được phân chia giá trị tài sản theo thứ tự thanh toán như đối với người gửi tiền trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi bị buộc giải thể do không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn hoặc bị phá sản theo quy định của pháp luật về giải thể, phá sản. Tổ chức bảo hiểm tiền gửi được quyền tham gia vào quá trình quản lý, thanh lý tài sản của tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định của pháp luật.”
12. Bổ sung cụm từ “bị buộc giải thể do không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn hoặc” vào trước cụm từ “bị phá sản” tại tên
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chịu trách nhiệm hướng dẫn việc thi hành Nghị định này.
3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
| TM. CHÍNH PHỦ |
- 1Quyết định 218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 2Thông tư 03/2000/TT-NHNN5 hướng dẫn thi hành Nghị định 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 3Quyết định 1077/2001/QĐ-NHNN sửa đổi Thông tư 03/2000/TT-NHNN5 về bảo hiểm tiền gửi do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 4Lệnh công bố Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
- 1Thông tư 03/2006/TT-NHNN hướng dẫn Nghị định 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi và Nghị định 109/2005/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 89/1999/NĐ-CP do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 2Luật các Tổ chức tín dụng 1997
- 3Quyết định 218/1999/QĐ-TTg về việc thành lập Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ ban hành
- 4Thông tư 03/2000/TT-NHNN5 hướng dẫn thi hành Nghị định 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 5Quyết định 1077/2001/QĐ-NHNN sửa đổi Thông tư 03/2000/TT-NHNN5 về bảo hiểm tiền gửi do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành
- 6Luật Tổ chức Chính phủ 2001
- 7Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi 2004
- 8Lệnh công bố Luật Bảo hiểm tiền gửi 2012
Nghị định 109/2005/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 89/1999/NĐ-CP về bảo hiểm tiền gửi
- Số hiệu: 109/2005/NĐ-CP
- Loại văn bản: Nghị định
- Ngày ban hành: 24/08/2005
- Nơi ban hành: Chính phủ
- Người ký: Phan Văn Khải
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 4
- Ngày hiệu lực: 19/09/2005
- Ngày hết hiệu lực: 19/08/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
