Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài (bao gồm người có quốc tịch Việt Nam và người gốc Việt Nam) có nguyện vọng sở hữu nhà ở tại Việt Nam, cùng các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan đến giao dịch nhà đất của kiều bào.
Quy định về quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Luật đã phân chia cụ thể các nhóm đối tượng kiều bào được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam khi đáp ứng điều kiện cư trú từ ba tháng trở lên, cụ thể như sau:
- Nhóm đối tượng được sở hữu nhà ở không giới hạn số lượng: Áp dụng cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên và thuộc một trong các diện sau:
- Người có quốc tịch Việt Nam.
- Người gốc Việt Nam thuộc diện về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư.
- Người gốc Việt Nam có công đóng góp cho đất nước.
- Nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam.
- Người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
- Nhóm đối tượng được sở hữu nhà ở có giới hạn: Đối với người gốc Việt Nam không thuộc các diện ưu tiên nêu trên, nếu được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì chỉ có quyền sở hữu tối đa một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống.
Quy định về quyền và nghĩa vụ sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở thì đồng thời có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam. Quyền và nghĩa vụ cụ thể bao gồm:
- Quyền và nghĩa vụ chung: Thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của người sử dụng đất theo quy định chung tại Điều 105 và Điều 107 của Luật Đất đai.
- Quyền chuyển nhượng và định đoạt tài sản:
- Được quyền chuyển quyền sử dụng đất ở khi bán, tặng cho, để thừa kế, đổi nhà ở cho tổ chức, cá nhân trong nước, hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam để ở.
- Được tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở cho Nhà nước, cộng đồng dân cư, hoặc tặng cho nhà tình nghĩa.
- Lưu ý đặc biệt về thừa kế và tặng cho: Trong trường hợp tặng cho hoặc để thừa kế cho đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam, các đối tượng này không được sang tên quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất mà chỉ được hưởng giá trị tài chính tương đương của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở đó.
- Quyền thế chấp tài sản: Được phép thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại các tổ chức tín dụng được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để phục vụ nhu cầu vay vốn.
- Quyền nhận bồi thường: Được Nhà nước bồi thường theo quy định của pháp luật Việt Nam khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất.
- Quyền khai thác và quản lý: Được quyền cho thuê nhà ở hoặc ủy quyền cho người khác quản lý nhà ở trong thời gian bản thân không có nhu cầu sử dụng trực tiếp.
Hiệu lực thi hành và hướng dẫn thực hiện
Luật sửa đổi Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai năm 2009 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2009. Chính phủ chịu trách nhiệm ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật này, đồng thời hướng dẫn các nội dung cần thiết khác nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về nhà ở và đất đai đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Luật số: 34/2009/QH12 |
|
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 126 CỦA LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở số 56/2005/QH11 và Điều 121 của Luật đất đai số 13/2003/QH11.
Điều 1.
“Điều 126. Quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam:
a) Người có quốc tịch Việt Nam;
b) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.
2. Người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định tại điểm b khoản 1 Điều này được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.”
Điều 2.
“Điều 121. Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam
1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng quy định tại Điều 126 của Luật nhà ở có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
a) Các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 105 và Điều 107 của Luật này;
b) Chuyển quyền sử dụng đất ở khi bán, tặng cho, để thừa kế, đổi nhà ở cho tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam để ở; tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở cho Nhà nước, cộng đồng dân cư, tặng cho nhà tình nghĩa theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 110 của Luật này. Trường hợp tặng cho, để thừa kế cho đối tượng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì đối tượng này chỉ được hưởng giá trị của nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;
c) Thế chấp nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam;
d) Được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật Việt Nam;
đ) Cho thuê, ủy quyền quản lý nhà ở trong thời gian không sử dụng.”
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 9 năm 2009.
2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
- 1Nghị quyết số 51/2001/QH10 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 do Quốc hội ban hành
- 2Hiến pháp năm 1992
- 3Lệnh công bố Luật sửa đổi Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai năm 2009
- 4Nghị định 71/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật nhà ở
- 5Quyết định 17/2006/QĐ-UBND bãi bỏ một số quy định trái pháp luật do tỉnh Quảng Ngãi ban hành
- 6Công văn 1674/BXD-QLN năm 2013 thực hiện chính sách, pháp luật về nhà ở, đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam do Bộ Xây dựng ban hành
Luật sửa đổi Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai năm 2009
- Số hiệu: 34/2009/QH12
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 18/06/2009
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Nguyễn Phú Trọng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Từ số 373 đến số 374
- Ngày hiệu lực: 01/09/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
