Chương 6 Luật điều chỉnh hối phiếu, séc và kỳ phiếu 1982
Một bên tham gia được miễn trừ trách nhiệm về phương tiện khi người ấy thanh toán cho người cầm phiếu, hoặc cho bên tham gia kế tiếp mình đã thanh toán phương tiện và đang có phương tiện ấy trong tay, theo giá trị phải trả theo Điều 66 hoặc Điều 67;Vào lúc hoặc sau khi đáo hạn; hoặc Trước khi đáo hạn theo sự từ chối không chấp nhận;Sự thanh toán trước khi đáo hạn với khoản (1) (b) của điều này không miễn trừ trách nhiệm về phương tiện cho bên tham gia thực hiện việc thanh toán trừ khi đối với người được thanh toán. Một bên tham gia không được miễn trừ trách nhiệm nếu thanh toán cho người cầm phiếu không phải là người cầm phiếu được bảo vệ và vào lúc thanh toán biết rằng một Ðệ Tam Nhân đã khiếu nại hợp lệ về phương tiện hoặc biết rằng người cầm phiếu chiếm hữu phương tiện bằng hoặc đã tham gia vào việc đánh cắp hay giả mạo ấy.
(a) Người nhận tiền thanh toán của một phương tiện phải giao, trừ khi có thoả thuận khác
(i) Phương tiện cho người trả tiền thực hiện việc thanh toán ấy;
(ii) Phương tiện, một giấy biên nhận và mọi chứng thư kháng nghị cho bất cứ người nào khác thực hiện việc thanh toán ấy.
(b) Người được yêu cầu thanh toán có thể không thanh toán nếu người yêu cầu thanh toán không giao phương tiện cho người kia. Không thanh toán trong hoàn cảnh đó không phải là từ chối không thanh toán theo Điều 54. Nếu việc thanh toán đã được thực hiện nhưng người thanh toán, không phải là người trả tiền không chiếm hữu được phương tiện người ấy được miễn nhiệm nhưng sự miễn nhiệm ấy không thể tạo thành sự phòng vệ chống lại người cầm phiếu được bảo vệ.
Người cầm phiếu không bị bắt buộc thanh toán từng phần. Nếu người cầm phiếu được đề nghị thanh toán từng phần, không nhận tiền thanh toán từng phần, phương tiện bị từ chối không thanh toán. Nếu người cầm phiếu nhận sự thanh toán từng phần của người trả tiền hoặc người chấp nhận hoặc người lập phiếu:Người chấp nhận hoặc người lập phiếu được miễn trừ trách nhiệm đến mức số tiền đã được thanh toán; và Phương tiện phải được xem như là từ chối không thanh toán về phần số tiền chưa thanh toán. Người cầm phiếu nhận việc thanh toán từng phần của một bên tham gia không phải là người trả tiền, người chấp nhận hoặc người lập phiếu:
(a) Bên tham gia thực hiện việcthanh toán được miễn trừ trách nhiệm đến mức số tiền đã thanh toán; và
(b) Người cầm phiếu phải trao cho bên tham gia ấy một bản sao có thị thực của phương tiện và của bất cứ chứng thư kháng nghị công chứng nào. Người trả tiền hoặc bên tham gia thanh toán từng phần có thể yêu cầu ghi việc thanh toán ấy vào phương tiện và một biên nhận tiền thanh toán phải được giao cho người ấy. Nếu số tiền còn lại đã được thanh toán, người nhận tiền thanh toán cũng là người đang chiếm hữu phương tiện phải giao cho người thanh toán phương tiện có ghi khoản tiền thanh toán đã nhận và mọi công chứng thư kháng nghị.
Người nhận tiền thanh toán có thể khước từ nhận tiền thanh toán tại một nơi không phải là nơi mà phương tiện đã được xuất trình để thanh toán theo Điều 51. Nếu trong trường hợp ấy, việc thanh toán không thực hiện tại nơi được xuất trình để được thanh toán theo Điều 51, phương tiện được xem như bị từ chối không thanh toán.
(i) Ðang được áp dụng tại nơi phương tiện phải được xuất trình để thanh toán theo Điều 51 (g), nếu loại tiền tệ ấn định là loại tiền tệ của nơi ấy ( tiền tệ địa phương ); hoặc
(ii) Nếu loại tiền tệ ấn định không phải là thứ tiền tệ của nơi ấy, thì tùy theo tập quán của nơi xuất trình để thanh toán theo Điều 51 (g).
Nếu một phương tiện như vậy bị từ chối không chấp nhận, giá trị thanh toán phải được tính:
(i) Nếu tỷ giá hối đoái được ghi rõ trên phương tiện, theo tỷ giá đó;
(ii) Nếu tỷ giá hối đoái không chỉ rõ trên phương tiện, tùy nhiệm ý của người cầm phiếu theo tỷ giá hối đoái hiện hành vào ngày từ chối hoặc vào ngày thanh toán thực tế. Trong điều này, không có gì ngăn cản toà án bắt bồi thường thiệt hại gây ra cho người cầm phiếu do những dao động trong tỷ giá hối đoái nếu thiệt hại đó do sự từ chối vì không chấp nhận hoặc không thanh toán gây ra. Tỷ giá hối đoái hiện hành vào một ngày nào đó là tỷ giá hối đoái hiện hành, tùy nhiệm ý của người cầm phiếu, tại nơi mà phương tiên phải được xuất trình để thanh toán theo Điều 51 (g) hoặc tại nơi thanh toán thực tế.
(1)Trong bản Quy ước này không có gì ngăn cản một quốc gia kết ước phải tôn trọng những thể lệ về kiểm soát hối đoái áp dụng trong lãnh thổ của mình, kể cả những thể lệ phải áp dụng theo những thoả hiệp quốc tế mà quốc gia ấy là một thành viên.
(2) (a) Nếu, theo áp dụng khoản (1) của Điều này, một phương tiện phát hành bằng loại tiền tệ không phải tiền tệ của nơi thanh toán phải được thanh toán bằng tiền tệ địa phương, trị giá thanh toán phải được tính theo tỷ giá hối đoái áp dụng cho hối phiếu trả ngay ( hoặc, nếu không có tỷ giá như vậy, theo tỷ giá hối đoái thích hợp hiện hành ) vào ngày xuất trình đương có hiệu lực tại nơi được xuất trình để thanh toán theo Điều 51(g).
(b) (i) Nếu một phương tiện như vậy bị từ chối không chấp nhận, trị giá thanh toán phải được tính, tùy nhiệm ý của người cầm phiếu, theo tỷ giá hối đoái thích hợp hiện hành vào ngày từ chối hoặc vào ngày thanh toán thực tế.
(ii) Nếu một phương tiện như vậy bị từ chối không thanh toán, trị giá phải được tính, tùy nhiệm ý của người cầm phiếu, theo tỷ giá hối đoái hiện hành vào ngày xuất trình hoặc ngày thanh toán thực tế. (iii) Các khoản (3) và (4) của Điều 71 được áp dụng cho nơi nào thích họp.
Luật điều chỉnh hối phiếu, séc và kỳ phiếu 1982
- Số hiệu: Khongso
- Loại văn bản: Điều ước quốc tế
- Ngày ban hành: 06/08/1982
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: ***
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 01/01/1900
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
- Điều 1. 1. Quy ước này áp dụng cho hối phiếu quốc tế và kỳ phiếu quốc tế.
- Điều 2. Quy ước này áp dụng bất chấp những địa điểm ghi trên hối phiếu quốc tế hoặc kỳ phiếu quốc tế theo các khoản 2. (c) hoặc 3. (e) của Điều 1 có ở trong các nước ký kết hay không.
- Điều 3. Trong diễn đạt quy ước này, cần quan tâm đến tính quốc tế và nhu cầu cải tiến tính thống nhất trong việc áp dụng quy ước.
- Điều 4. Trong Quy ước này
- Điều 5. Vì những mục đich của Quy ước này một người được xem là có ý thức về một sự kiện nào đó nếu người ấy ý thức một cách thực tế về sự kiện ấy hoặc không thể không biết đến sự hiện hữu của sự kiện.
- Điều 6. Số tiền được trả của một phương tiện được hiểu là một số tiền được xác định rõ ràng mặc dù phương tiên ghi rằng nó phải được thanh toán:
- Điều 7. Nếu có sự khác biệt trị giá bằng chữ và trị giá bằng số trên phương tiện thì trị giá của phương tiện trị giá bằng chữ.
- Điều 8. 1. Một phương tiện được xem phải thanh toán theo yêu cầu:
- Điều 9. Một hối phiếu có thể:
- Điều 10. Một hối phiếu có thể:
- Điều 11. Một phương tiện còn khiếm khuyết thoả mãn những yêu cầu trình bày ở các tiểu khoản (a) và (f) của khoản (2) hoặc các tiểu khoản (a) và (f) của khoản (3) của Điều 1 nhưng còn thiếu những yếu tố thuộc một hoặc nhiều yêu cầu trình bày trong khoản (2) hoặc (3) của Điều 1 có thể bổ sung và phương tiện bổ sung như vậy có hiệu lực như một hối phiếu hoặc một kỳ phiếu.
- Điều 12. Một phương tiện được chuyển nhượng:
- Điều 13. 1. Một ký hậu phải được viết vào phương tiện hoặc một bản đính kèm theo ("bản nối dài”). Bản này phải được ký tên.
- Điều 14. 1. Một người là người cầm phiếu nếu người ấy:
- Điều 15. Người cầm một phương tiện trên đó lần ký hậu sau cùng là ký hậu trống có thể:
- Điều 16. Khi người phát hành hoặc người lập phương tiện có ghi vào, hoặc người ký hậu trong lần ký hậu của mình, những từ như”không thể giao dịch",”không thể chuyển nhượng",”không theo lệnh",”chi trả cho (X) mà thôi", hoặc những từ có nội dung tương tự, người thụ nhượng không thể trở thành người cầm phiếu trừ phi nhằm mục đích nhờ thu.
- Điều 17. 1. Việc ký hậu phải vô điều kiện
- Điều 18. Việc ký hậu đối với một phần số tiền còn nợ theo phương tiện sẽ là một ký hậu không có hiệu lực.
- Điều 19. Khi có hai hoặc nhiều ký hậu, người ta xem như mỗi ký hậu đều được thực hiện theo thứ tự như thể hiện trên phương tiện, trừ khi được chứng minh ngược lạI.
- Điều 20. 1. Khi một ký hậu chứa đựng những từ ”để nhờ thu", ”để ký gửi", ”trị giá nhờ thu", ”theo uỷ quyền", ”trả cho mọi ngân hàng", hoặc những từ có nội dung tương tự cho phép người được ký hậu nhờ thu phương tiện (ký hậu nhờ thu). Người được ký hậu:
- Điều 21. Người cầm một phương tiện có thể chuyển nhượng nó cho một bên tham gia trước đó hoặc cho người trả tiền theo Điều 12; tuy nhiên, trong trường hợp người được chuyển nhượng đã là người cầm phiếu trước, không cần phải ký hậu nữa và bất cứ ký hậu nào ngăn cản người ấy trở thành người cầm phiếu đều có thể bị xoá bỏ.
- Điều 22. Một phương tiện có thể được chuyển nhượng theo Điều 12 sau khi đáo hạn trừ khi bởi người trả tiền, người chấp nhận hoặc người lập phương tiện.
- Điều 23. 1. Nếu một người ký hậu giả mạo, bất cứ bên tham gia nào đều có quyền đòi kẻ giả mạo và đòi người mà phương tiện được kẻ giả mạo trực tiếp chuyển nhượng bồi thường cho những tổn thất người ấy gánh chịu do nhữnh hành vi giả mạo.
- Điều 24. 1. Người cầm một phương tiện có mọi quyền hạn do bản Quy ước này giao cho đối với các bên tham gia.
- Điều 25. 1. Một bên tham gia có thể dùng để đối kháng người cầm phiếu không phải là người cầm phiếu được bảo vệ.
- Điều 26. 1. Một bên tham gia có thể không nêu lên sự biện hộ nào đối với người cầm phiếu được bảo vệ trừ khi:
- Điều 27. 1. Việc chuyển nhượng một phương tiện bởi người cầm phiếu được bảo vệ trao cho bất cứ người cầm phiếu kế tiếp nào những quyền hạn về phương tiện mà người cầm phiếu được bảo vệ đã có, trừ khi người cầm phiếu kế tiếp đó tham gia vào một sự giao dịch tạo ra sự khiếu nại hoặc sự phòng vệ về phương tiện.
- Điều 28. Mỗi người cầm phiếu đều được xem như người cầm phiếu được bảo vệ, trừ khi được chứng minh ngược lại.
- Điều 29. 1. Thể theo các quy định của Điều 30 và Điều 32: một người không chịu trách nhiệm về một phương tiện, trừ khi người ấy đã ký tên trên phương tiện.
- Điều 30. Một chữ ký giả mạo không ràng buộc người bị giả mạo chữ ký bất kỳ trách nhiệm nào. Tuy nhiên, người ấy phải chịu trách nhiệm như thể chính người ấy đã tự tay ký khi người ấy đã minh thị hoặc mặc nhiên chấp nhận sự rằng buộc do chữ ký giả mạo hoặc khai rằng chữ ký đó đúng là chữ ký của mình.
- Điều 31. 1. Nếu một phương tiện bị sửa đổi cụ thể:
- Điều 32. 1. Một phương tiện có thể được một người đại diện ký.
- Điều 33. Lệnh thanh toán ghi trong một hối phiếu tự nó không phải là một chuyển nhượng mà người phát hành dành cho người hưởng thụ số tiền sẵn sàng để người thụ trái thanh toán.
- Điều 34. 1. Người ký phát cam kết rằng khi có sự khước từ hối phiếu bằng không chấp nhận hoặc không thanh toán và khi có kháng nghị cần thiết nào, người ấy sẽ thanh toán cho người cầm phiếu, hoặc cho bất cứ bên tham gia thanh toán hối phiếu theo Điều 66, trị giá hối phiếu và tiền lãi cùng chi phí có thể thu hồi theo Điều 66 và Điều 67.
- Điều 35. Người lập phiếu cam kết sẽ thanh toán cho người cầm phiếu hoặc cho bất cứ bên tham gia nào đã trả đúng theo Điều 66 số tiền trị giá của kỳ phiếu theo đúng các điều khoản của kỳ phiếu đó và mọi khoản lãi và chi phí có thể được thu hồi theo Điều 66 và Điều 67. Người lập phiếu không thể phủ nhận hoặc hạn chế trách nhiệm của mình bằng một khoản dự liệu trên kỳ phiếu. Mọi khoản dự liệu như vậy sẽ không có hiệu lực.
- Điều 36. Người trả tiền không chịu trách nhiệm đối với một hối phiếu cho đến khi chấp nhận hối phiếu. Người chấp nhận cam kết sẽ thanh toán cho người cầm phiếu hoặc bất cứ bên tham gia nào đã thanh toán hối phiếu theo Điều 66 số tiền trị giá hối phiếu đúng theo những khoản dự liệu của sự chấp nhận và mọi khoản tiền lãi và chi phí có thể được thu hồi theo Điều 66 và Điều 67.
- Điều 37. Một sự chấp nhận phải được viết lên trên hối phiếu và có thể thực hiện:Bằng chữ ký của người trả tiền có kèm theo từ ”Ðã chấp nhận” hoặc những từ có nội dung tương tự; hoặc Bằng chữ ký đơn thuần của người trả tiền mà thôi.
- Điều 38. Một phương tiện khiếm khuyết nhưng thoả mãn những yêu cầu nêu ra ở Điều 1 (2)(a) có thể được trả tiền chấp nhận trước khi được người ký phát ký tên, hoặc trong khi còn khiếm khuyết dưới dạng khác. Một hối phiếu có thể được chấp nhận trước, vào lúc hoặc sau khi đáo hạn, hoặc sau khi hối phiếu đã bị từ chối bằng cách không chấp nhận hoặc không thanh toán Khi một hối phiếu được phát hành phải thanh toán vào một thời gian nhất định sau khi trông thấy, hoặc một hối phiếu phải được xuất trình để chấp nhận trước ngày được ấn định, đã được chấp nhận, người chấp nhận phải ghi rõ ngày chấp nhận của mình; nếu người chấp nhận không ghi rõ như vậy, người ký phát hoặc người cầm phiếu có thể thêm vào đó ngày chấp nhận. Nếu một hối phiếu được phát hành phải trả vào một thời gian nhất định sau khi trông thấy bị từ chối bằng cách không chấp nhận và người trả tiền sau đó chấp nhận hối phiếu, người cầm phiếu có quyền buộc sự chấp nhận phải được ghi ngày theo ngày hối phiếu bị từ chối.
- Điều 39. Sự chấp nhận phải không có tính bảo lưu. Sự chấp nhận có tính bảo lưu nếu nó có điều kiện hoặc thay đổi ngôn từ của hối phiếu. Nếu người trả tiền đặt điều kiện trên hối phiếu rằng sự chấp nhận của người ấy có tính bảo lưu:Người ấy tuy vậy vẫn bị ràng buộc theo ngôn từ của sự chấp nhận bảo lưu của mình. Hối phiếu đó bị từ chối vì không chấp nhận. Một chấp nhận chỉ liên quan tới một phần giá trị của hối phiếu là một sự chấp nhận boả lưu. Nếu người cầm phiếu nhận một sự chấp nhận như vậy, hối phiếu chỉ bị từ chối phần còn lại. Một sự chấp nhận chỉ rõ rằng việc thanh toán sẽ được thực hiện tại một địa chỉ nhất định hoặc do một đại diện nhất định không phải là sự chấp nhận bảo lưu miễn là: Nơi thực hiện việc thanh toán không thay đổi. Hối phiếu không phải ký phát để cho một đại diện khác trả.
- Điều 40. Người ký hậu cam kết rằng nếu bị từ chối không chấp nhận hoặc không thanh toán, và nếu vì có bất kỳ kháng nghị cần thiết nào, người ấy sẽ thanh toán cho người cầm phiếu, hoặc cho bất cứ bên tham gia kế tiếp nào thanh toán theo Điều 66, trị giá của phương tiện, và mọi khoản lãi và chi phí có thể thu hồi theo Điều 66 và Điều 67. Người ký hậu có thể hạn chế hoặc phủ nhận trách nhiệm của mình bằng một điều kiện minh thị trên phương tiện. Điều kiện đó chỉ có hiệu lực đối với người ký hậu.
- Điều 41. Bất cứ người nào chuyển nhượng một phương tiện bằng cách giao đơn giản phải chịu trách nhiệm với bất cứ người cầm phiếu kế tiếp mà của chính người ấy về mọi tổn thất mà người cầm phiếu đó phải chịu về sự kiện rằng trước sự chuyển nhượng ấy:Chữ ký là giả mạo hoặc không thẩm quyền; hoặc Phương tiện đã bị sửa đổi cụ thể; hoặc Một bên tham gia đã có sự khiếu nại hợp lí hoặc sự biện hộ đối với người chuyển nhượng; hoặc Hối phiếu đã bị từ chối vì không chấp nhận hoặc không thanh toán hoặc kỳ phiếu đã bị từ chối vì không thanh toán. Các tổn thất có thể được bồi hoàn theo khoản (1) không thể vượt giá trị nêu trong Điều 66 hoặc Điều 67. Trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào đề cập tại khoản (1) chỉ quy kết cho người cầm phiếu đã nhận phương tiện mà không biết đến khiếm khuyết đó.
- Điều 42. Việc thanh toán của một phương tiện dù nó được chấp nhận hay không, có thể được bảo lãnh theo toàn bộ hoặc một phần trị giá của nó, cho quyền lợi của bên tham gia hoặc người trả tiền. Việc bảo lãnh có thể thực hiện bởi bất cứ người nào dù người ấy đã từng là bên tham gia hay chưa. Việc bảo lãnh phải được viết lên phương tiện hoặc lên một mảnh giấy kèm theo (“phần nối dài”). Việc bảo lãnh được diễn trả bằng những từ”được bảo lãnh”,”bảo đảm”(aval ), hoặc những từ có nội dung tương tự kèm theo chữ ký của người đứng bảo lãnh. Việc bảo lãnh có thể thực hiện bằng chữ ký đơn thuần mà thôI. Trừ phi nội dung đòi hỏi khác hơn:Chữ ký đơn độc ở phía trước phương tiện khác với chữ ký của người ký phát hoặc người trả tiền là sự bảo lãnh;Chữ ký đơn độc của người trả tiền ở phía trước phương tiện là sự chấp nhận; và Chữ ký đơn độc ở phía sau phương tiện khác với chữ ký của người trả tiền là sự ký hậu. Người bảo lãnh có thể ghi rõ người mà mình đứng bảo lãnh. Nếu không ghi rõ như vậy, ngưòi mà người bảo lãnh đứng ra bảo lãnh là người chấp nhận hoặc người trả tiền nếu là hối phiếu, và người lập phiếu nếu là kỳ phiếu.
- Điều 43. Ngưòi bảo lãnh chịu trách nhiệm về phương tiện đến mức độ như bên tham gia mà người ấy đứng ra bảo lãnh, trừ phi người bảo lãnh đã quy định khác hơn trên phương tiện. Nếu ngưòi mà người bảo lãnh đứng ra bảo lãnh là người trả tiền, người bảo lãnh cam kết thanh toán hối phiếu khi đáo hạn.
- Điều 44. Người bảo lãnh thanh toán phương tiện có quyền hạn về phương tiện đó đối với bên tham gia mà người ấy đứng ra bảo lãnh và đối với các bên tham gia có trách nhiệm với bên tham gia ấy về phương tiện.
- Điều 45. Một hối phiếu có thể được xuất trình để chấp nhận. Một hối phiếu phải được xuất trình để chấp nhận:Khi người phát hành đã quy định trên hối phiếu rằng hối phiếu phải được xuất trình để chấp nhận. Khi hối phiếu được phát hành với điều kiện phải thanh toán vào thời gian ấn định sau khi trông thấy; hoặc Khi hối phiếu được phát hành với điều kiện phải thanh toán tại nơi khác hơn cơ sở hoặc trụ sở giao dịch của ngưòi trả tiền, trừ khi hối phiếu đó phải thanh toán theo yêu cầu.
- Điều 46. Mặc dù những dự liệu của Điều 45 người ký phát có thể quy định trên hối phiếu rằng hối phiếu không cần phải xuất trình để chấp nhận hoặc hối phiếu không cần phải xuất trình cho mục đích ấy trước một địa điểm ấn định hoặc trước khi xảy ra một sự kiện ấn định. Nếu một hối phiếu được xuất trình để chấp nhận mặc dù có khoản dự liệu được phép theo khoản (1) và sự chấp nhận bị khước từ, hối phiếu không vì thế bị từ chối. Nếu người trả tiền chấp nhận một hối phiếu bất kể có dự liệu rằng hối phiếu phải được xuất trình để chấp nhận, sự chấp nhận vẫn có hiệu lực.
- Điều 47.
- Điều 48. Việc xuất trình bắt buộc hoặc tùy ý để chấp nhận được miễn trừ:Nếu người trả tiền qua đời hoặc không còn thẩm quyền tự do điều động các tích sản của mình vì lí do vỡ nợ, hoặc là người không có thực hoặc người không có năng lực chịu trách nhiệm về phương tiện như người chấp nhận, hoặc nếu người thụ trái là một công ty hùn vốn, hiệp hội hoặc pháp nhân khác đã chấm dứt hiện hữu; Khi với sự cần mẫn hợp lý, việc xuất trình không thể thực hiện trong thời hạn ấn định cho việc xuất trình để chấp nhận.
- Điều 49.
- Điều 50. Một hối phiếu được xem là bị từ chối nếu không chấp nhận:Khi người trả tiền, với sự xuất trình hợp thức, minh thị từ chối chấp nhận hối phiếu hoặc sự chấp nhận không đạt được mặc dù với sự cần mẫn hợp lí, hoặc khi người cầm phiếu không giành được sự chấp nhận mà người này có quyền theo bản Quy ước naỳ. Nếu việc xuất trình để chấp nhận được miễn trừ theo Điều 48, trừ khi hối phiếu được chấp nhận thực tại. Nếu một hối phiếu bị từ chối không chấp nhận, người cầm phiếu có thể:Theo những dự liệu Điều 55, thực hiện quyền truy đòi ngay đối với người ký phát, những người ký hậu và những người bảo lãnh của họ;Thực hiện quyền truy đòi ngay đối với người bảo lãnh của người trả tiền
- Điều 51. Một phương tiện được xuất trình hợp thức để thanh toán nếu nó xuất trình đúng theo những quy định sau:Người cầm phiếu phải xuất trình phương tiện cho người trả tiền hoặc người chấp nhận hoặc người lập phiếu vào ngày làm việc và vào giờ hợp lí;Một hối phiếu phát hành cho hoặc được chấp nhận bởi hai hoặc nhiều người trả tiền hoặc một kỳ phiếu được hai hoặc nhiều người lập phiếu ký tên, có thể được xuất trình cho bất cứ người nào trong số những người ấy, trừ khi nó quy định khác hơn một cách rõ ràng. Nếu người trả tiền hoặc người chấp nhận hoặc người lập phiếu qua đời, việc xuất trình phải thực hiện với người theo luật hiện hành là người thừa kế của họ hoặc những người được giao quyền quản lý tài sản của người ấy. Việc xuất trình để thanh toán có thể thực hiện với một người hoặc với nhà chức trách không phải là người trả tiền, người chấp nhận hoặc người lập phiếu nếu người ấy hoặc nhà chức trách ấy được giao quyền theo luật pháp hiện hành để thanh toán phương tiện. Một phương tiện không phải thanh toán theo yêu cầu phải được xuất trình để thanh toán vào ngày đáo hạn hoặc ngày làm việc kế tiếp. Một phương tiện phải thanh toán theo yêu cầu phải được xuất trình để thanh toán trong vòng một năm kể từ ngày của phương tiện đó. Một phương tiện phải xuất trình để thanh toán:
- Điều 52. Chậm trễ trong việc xuất trình để thanh toán được tha thứ khi chậm trễ có nguyên nhân do hoàn cảnh ngoài ý muốn của người cầm phiếu và người ấy đã không thể tránh được hoặc không thể vượt qua được. Khi nguyên nhân của sự chậm trễ không còn tác đông nữa, việc xuất trình phải được thực hiện với sự cần mẫn hợp lý. Việc xuất trình để thanh toán được miễn:
- Điều 53. Nếu một hối phiếu không được xuất trình một cách hợp thức để thanh toán, người ký phát, những người ký hậu và những người bảo lãnh của họ sẽ không chịu trách nhiệm về hối phiếu đó. Nếu một kỳ phiếu không được xuất trình một cách hợp thức để thanh toán, những người ký hậu và những người bảo lãnh của họ sẽ không chịu trách nhiệm về kỳ phiếu đó. Việc không xuất trình để thanh toán không miễn trừ trách nhiệm của người chấp nhận hoặc người lập phiếu hoặc người bảo lãnh của họ hoặc người bảo lãnh của người thụ trái.
- Điều 54. Một phương tiện được xem như bị từ chối không thanh toán:Khi việc thanh toán bị khước từ trước sự xuất trình hợp thức hoặc khi người cầm phiếu không thể đạt được sự thanh toán mà người này được hưởng theo bản Quy ước này. Nếu việc xuất trình để thanh toán được miễn theo Điều 52 (2) và phương tiện không được thanh toán khi đáo hạn. Nếu một hối phiếu bị từ chối không thanh toán, người cầm phiếu có thể theo các khoản dự liệu của Điều 55 sử dụng quyền truy đòi đối với người ký phát, những người ký hậu và những người bảo lãnh của họ. Nếu một kỳ phiếu bị từ chối không thanh toán, người cầm phiếu có thể theo các khoản dự liệu của Điều 55 sử dụng quyền truy đòi đối với những người ký hậu và những người bảo lãnh của họ.
- Điều 55.
- Điều 56. Một chứng thư kháng nghị là một văn bản phát biểu về sự từ chối thanh toán lập tại địa điểm mà phương tiện đã bị từ chối và được ký tên và đề ngày bởi một người đã được luật pháp địa phương cho phép trong việc này. Văn bản phát biểu nêu rõ:Tên người yêu cầu lập chứng từ kháng nghị;Nơi kháng nghị, vàYêu cầu đã được nêu và câu trả lời, nếu có, hoặc sự kiện không thể tìm thấy người trả tiền hoặc người chấp nhận hoặc người lập phiếu. Một chứng thư kháng nghị có thể được lập:Trên chính văn bản hoặc trên mẫu giấy đính kèm phương tiện (“phần nối dài"); hoặc Bằng một chứng thư riêng biệt, trong trường hợp này, phải nêu rõ phương tiện đã bị từ chối. Trừ khi quy định rằng chứng thư kháng nghị phải được lập, một chứng thư kháng nghị có thể được thay thế bằng lời khai viết lên phương tiện và ký tên và đề ngày bởi người trả tiền hoặc bởi người chấp nhận hoặc bỏi người lập phiếu, hoặc bởi người đích danh thanh toán trong trường hợp một phương tiện quy định nơi một người đích danh thanh toán đó; lời khai phải nhằm mục đích xác nhận từ chối chấp nhận hoặc từ chối thanh toán. Một lời khai thực hiện theo khoản (3) được xem là một chứng thư kháng nghị theo mục đích của bản Quy ước này
- Điều 57. Chứng thư kháng nghị về từ chối một hối phiếu bằng không chấp nhận phải được lập vào ngày hối phiếu bị từ chối hoặc vào một của hai ngày làm việc sau đó. Chứng thư kháng nghị về từ chối một phương tiện không thanh toán phải được lập vào ngày phương tiện bị từ chối hoặc vào một của hai ngày làm việc sau đó.
- Điều 58. 1. Chậm trễ trong việc lập chứng thư kháng nghị một phương tiện vì từ chối được tha thứ khi chậm trễ có nguyên nhân do hoàn cảnh ngoài ý muốn của người cầm phiếu và người ấy không thể tránh được. Khi nguyên nhân của sự châm trễ không còn tác động nữa, chứng thư kháng nghị phải được lập với sự cần mẫn hợp lý.
- Điều 59. Nếu hối phiếu mà đáng lẽ phải lập chứng thư kháng nghị vì không chấp nhận hoặc không thanh toán nhưng lại không lập chứng thư một cách hợp thức, người phát hành, người ký hậu và những người bảo lãnh của họ không chịu trách nhiệm về hối phiếu đó. Nếu một kỳ phiếu mà đáng lẽ phải lập chứng thư kháng nghị vì không thanh toán nhưng lại không lập chứng thư kháng nghị một cách hợp thức, những người ký hậu và những người bảo lãnh của họ không chịu trách nhiệm về kỳ phiếu đó. Không lập chứng thư kháng nghị một phương tiện không miễn trừ trách nhiệm của người chấp nhận hoặc người lập phiếu hoặc những người bảo lãnh của họ hoặc người bảo lãnh của người trả tiền.
- Điều 60. Người cầm phiếu khi gặp sự từ chối một hối phiếu không chấp nhận hoặc không thanh toán, phải thông báo sự từ chối đó cho người phát hành, những người ký hậu và những người bảo lãnh của họ. Người cầm phiếu khi gặp sự từ chối một kỳ phiếu không thanh toán, phải thông báo sự từ chối đó cho những người ký hậu và những người bảo lãnh của họ. Một người ký hậu hoặc một người bảo lãnh nhận được thông báo phải thông báo về sự từ chối cho bên tham gia ngay kế trước mình và có trách nhiệm về phương tiện. Thông báo về sự từ chối có tác dụng cho lợi ích của bất cứ bên tham gia nào có quyền truy đòi đối với bên tham gia được thông báo.
- Điều 61. Thông báo về sự từ chối có thể thực hiện dưới bất cứ hình thức nào và bằng văn từ nào chỉ rõ phương tiện và nói rằng phương tiện đã bị từ chối. Việc hoàn trả phương tiện bị từ chối cũng đủ để trở thành thông báo, miễn là phương tiện được kèm theo lời trình bày rằng phương tiện đã bị từ chối. Thông báo về từ chối thực hiện hợp thức nếu nó được truyền đạt hoặc gửi cho bên tham gia phải thông báo bằng phương tiện thích nghi trong các hoàn cảnh, mặc dù bên tham gia ấy có nhận được hay không. Trách nhiệm chứng minh rằng thông báo đã được gửi một cách hợp thức thuộc về người yêu cầu gửi thông báo ấy.
- Điều 62. Thông báo về sự từ chối phải được gửi trong vòng hai ngày làm việc tiếp theo sau:Ngày lập chứng thư kháng nghị hoặc, nếu chứng thư kháng nghị được miễn ngày từ chối, hoặc Sự tiếp nhận thông báo do một bên tham gia khác gửi
- Điều 63. Sự chậm trễ trong việc gửi thông báo về sự từ chối được tha thứ khi chậm trễ có nguyên nhân do hoàn cảnh ngoài ý muốn người cầm phiếu và người ấy không thể tránh hoặc vượt qua được. Khi nguyên nhân của sự châm trễ không còn tác động nữa, thông báo phải được gửi đi với sự cần mẫn hợp lý. Thông báo về từ chối được miễn:Nếu sau khi thi hành sự cần mẫn hợp lý, thông báo vẫn không thực hiên được;Nếu người ký phát, người ký hậu hoặc người bảo lãnh đã từ bỏ thông báo một cách rõ ràng hay ngụ ý sự từ bỏ ấy;
- Điều 64. Không thông báo sự từ chối làm cho người có nghĩa vụ thông báo theo Điều 60 cho bên tham gia được quyền nhận thông báo ấy phải chiu trách nhiệm về bất cứ sự tổn thất nào mà bên tham gia ấy có thể chịu thiệt do việc thông báo ấy, miễn là những tổn thất ấy không vượt quá trị giá đề cập tại Điều 67 và Điều 68.
- Điều 65. Người cầm phiếu có thể thực hiện các quyền của mình trên phương tiện chông lại bất cứ một bên tham gia nào hoặc chống lại số đông các bên tham gia chịu trách nhiệm đối với phương tiện đó và không bị bắt buộc tuân theo thứ tự mà bên tham gia đã bị ràng buộc.
- Điều 66.
- Điều 67. Một bên tham gia thanh toán một phương tiện đúng theo Điều 66 có thể thu hồi từ các bên tham gia chịu trách nhiệm với người ấy: Toàn bộ số tiền ấy bắt buộc phải theo Điều 66 và đã trả;Tiền lãi trên số tiền ấy theo lãi suất ấn định tại Điều 66 khoản (2), kể từ ngày người ấy đã thanh toán. Mọi chi phí về các thông báo mà người ấy đã thực hiện trách nhiệm cho tất cả các bên tham gia đến cùng một mức độ.
- Điều 68. Một bên tham gia được miễn trừ trách nhiệm về phương tiện khi người ấy thanh toán cho người cầm phiếu, hoặc cho bên tham gia kế tiếp mình đã thanh toán phương tiện và đang có phương tiện ấy trong tay, theo giá trị phải trả theo Điều 66 hoặc Điều 67;Vào lúc hoặc sau khi đáo hạn; hoặc Trước khi đáo hạn theo sự từ chối không chấp nhận;Sự thanh toán trước khi đáo hạn với khoản (1) (b) của điều này không miễn trừ trách nhiệm về phương tiện cho bên tham gia thực hiện việc thanh toán trừ khi đối với người được thanh toán. Một bên tham gia không được miễn trừ trách nhiệm nếu thanh toán cho người cầm phiếu không phải là người cầm phiếu được bảo vệ và vào lúc thanh toán biết rằng một Ðệ Tam Nhân đã khiếu nại hợp lệ về phương tiện hoặc biết rằng người cầm phiếu chiếm hữu phương tiện bằng hoặc đã tham gia vào việc đánh cắp hay giả mạo ấy.
- Điều 69. Người cầm phiếu không bị bắt buộc thanh toán từng phần. Nếu người cầm phiếu được đề nghị thanh toán từng phần, không nhận tiền thanh toán từng phần, phương tiện bị từ chối không thanh toán. Nếu người cầm phiếu nhận sự thanh toán từng phần của người trả tiền hoặc người chấp nhận hoặc người lập phiếu:Người chấp nhận hoặc người lập phiếu được miễn trừ trách nhiệm đến mức số tiền đã được thanh toán; và Phương tiện phải được xem như là từ chối không thanh toán về phần số tiền chưa thanh toán. Người cầm phiếu nhận việc thanh toán từng phần của một bên tham gia không phải là người trả tiền, người chấp nhận hoặc người lập phiếu:
- Điều 70. Người nhận tiền thanh toán có thể khước từ nhận tiền thanh toán tại một nơi không phải là nơi mà phương tiện đã được xuất trình để thanh toán theo Điều 51. Nếu trong trường hợp ấy, việc thanh toán không thực hiện tại nơi được xuất trình để được thanh toán theo Điều 51, phương tiện được xem như bị từ chối không thanh toán.
- Điều 71. Một phương tiện phải được thanh toán bằng thứ tiền tệ đã được ghi trên trị giá của phương tiện. Người phát hành hoặc người lập phiếu có thể chỉ rõ trên phương tiện rằng phương tiện phải được thanh toán bằng một thứ tiền tệ ấn định không phải thứ tiền tệ ghi trên giá trị của phương tiện. Trong trường hợp này:Phương tiện phải được thanh toán bằng thứ tiền tệ đã được ấn định. Số tiền thanh toán phải được tính theo tỷ giá hối đoái chỉ định trên phương tiện. Nếu không chỉ định tỷ giá như vậy, số tiền thanh toán phải được tính theo tỷ giá hối đoái áp dụng cho những hối phiếu thanh toán ngay ( hoặc, nếu không có tỷ giá đó, theo tỷ giá thích hợp hiện hành) vào ngày đáo hạn:
- Điều 72. (1)Trong bản Quy ước này không có gì ngăn cản một quốc gia kết ước phải tôn trọng những thể lệ về kiểm soát hối đoái áp dụng trong lãnh thổ của mình, kể cả những thể lệ phải áp dụng theo những thoả hiệp quốc tế mà quốc gia ấy là một thành viên.
- Điều 73. Khi một bên tham gia được miễn nhiệm toàn bộ hoặc một phần trách nhiệm về phương tiện, bất cứ bên tham gia nào có quyền thay đổi đối với người ấy cũng được miễn nhiệm đến cùng một mức độ. Việc thanh toán toàn bộ hoặc một phần trị giá hối phiếu bởi người trả tiền cho người cầm phiếu, hoặc cho bất cứ bên tham gia nào đã thanh toán hối phiếu theo Điều66, sẽ miễn trừ trách nhiệm cho tất cả các bên tham gia đến cùng một mức độ
- Điều 74. Khi một phương tiện bị thất thoát, dù do tiêu huỷ trộm cắp hay do nguyên nhân khác, người bị thất thoát, theo những dự liệu của khoản (2) Điều này, có quyền được thanh toán lẽ ra người ấy phải có khi người ấy đã sở hữu phương tiện. Bên tham gia được yêu cầu thanh toán không thể viện dẫn sự kiện người yêu cầu thanh toán không nắm giữ phương tiện như là nguyên cớ để khước từ trách nhiệm về phương tiện đó. Người yêu cầu thanh toán một phương tiện bị thất thoát phải nêu rõ những bằng văn bản gửi cho bên tham gia mà người ấy yêu cầu thanh toán:
- Điều 75. 1. Một bên tham gia đã thanh toán một phương tiện bị thất thoát và sau đó người khác xuất trình phương tiện để yêu cầu thanh toán phải thông báo cho người trước đây bên tham gia ấy đã thanh toán về sự xuất trình đó.
- Điều 76. 1. Một bên tham gia đã thanh toán một phương tiện bị thất thoát theo đúng các khoản dự liệu của Điều 74 và sau đó được yêu cầu, và thanh toán phương tiện, hoặc người nào vì lí do thất thoát và do đó mất quyền thu hồi từ bất cứ bên tham gia nào có trách nhiệm với người ấy, có quyền:
- Điều 77. Một người được thanh toán một phương tiện bị thất thoát thực hiện một cách hợp thức việc lập chứng từ kháng nghị về từ chối không thanh toán bằng cách dùng một văn bản thoả mãn những điều kiện của Điều 74 khoản (2) (a).
- Điều 78. Một người nhận tiền thanh toán một phương tiện bị thất thoát theo Điều 74 phải giao cho bên tham gia thanh toán văn bản được định tại Điều 74, khoản (2) (a), được người ký nhận và mọi chứng thư kháng nghị và một bản thanh toán có đóng dấu đã trả tiền.
- Điều 79. 1. Một bên tham gia đã thanh toán một phương tiện bị thất thoát theo Điều 74 có cùng những quyền hạn lẽ ra đã có nếu người ấy có nắm giữ phương tiện.
