Lệnh của Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về việc công bố Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000 là văn bản pháp lý quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong công tác bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Văn bản này chính thức công bố Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước được Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa X thông qua ngày 28 tháng 12 năm 2000, nhằm thay thế cho Pháp lệnh năm 1991, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ và chặt chẽ hơn trong tình hình mới.
Pháp lệnh áp dụng đối với mọi cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân Việt Nam. Người nước ngoài cư trú, hoạt động tại Việt Nam cũng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Khái niệm và phạm vi bí mật nhà nước (Điều 1)
- Bí mật nhà nước được định nghĩa là những thông tin, tài liệu, dự án, đề án, địa điểm, vật, lời nói có nội dung quan trọng thuộc các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, khoa học, công nghệ và các lĩnh vực khác mà Nhà nước chưa công bố hoặc không công bố.
- Việc tiết lộ những thông tin này có thể gây nguy hại nghiêm trọng đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, sự phát triển kinh tế - xã hội và lợi ích của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước (Điều 2)
- Bảo vệ bí mật nhà nước là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức, lực lượng vũ trang nhân dân và của toàn thể công dân Việt Nam.
- Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm quản lý, giáo dục cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc quyền quản lý nghiêm túc chấp hành các quy định về bảo vệ bí mật nhà nước.
Các hành vi bị nghiêm cấm (Điều 3)
- Nghiêm cấm mọi hành vi thu thập, tiết lộ, chuyển giao, mua bán, tiêu hủy trái phép bí mật nhà nước dưới bất kỳ hình thức nào.
- Nghiêm cấm việc lợi dụng việc bảo vệ bí mật nhà nước để che giấu hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân, hoặc cản trở việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước (Điều 4)
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trên phạm vi cả nước.
- Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước, chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan để hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước tại địa phương, ngành mình.
Hiệu lực thi hành
Lệnh công bố có hiệu lực ngay từ thời điểm ban hành. Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000 chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 04 năm 2001, thay thế cho Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước ngày 28 tháng 10 năm 1991.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| CHỦ TỊCH NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 02/2001/L-CTN | Hà Nội, ngày 11 tháng 01 năm 2001 |
LỆNH
VỀ VIỆC CÔNG BỐ PHÁP LỆNH
CHỦ TỊCH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
Căn cứ vào Điều 78 của Luật Tổ chức Quốc hội;
Căn cứ vào Điều 51 của Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật,
NAY CÔNG BỐ:
Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước
Đã được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khoá X, thông qua ngày 28 tháng 12 năm 2000./.
|
| CHỦ TỊCH NƯỚC |
Lệnh công bố Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000
- Số hiệu: 02/2001/L-CTN
- Loại văn bản: Lệnh
- Ngày ban hành: 11/01/2001
- Nơi ban hành: Chủ tịch nước
- Người ký: Trần Đức Lương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Số 14
- Ngày hiệu lực: 11/01/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
