TÓM TẮT CHI TIẾT LUẬT CÔNG ĐOÀN NĂM 1990 (LUẬT SỐ 40-LCT/HDNN8)
Luật Công đoàn năm 1990 (ban hành ngày 30 tháng 6 năm 1990) là văn bản pháp lý quan trọng đặt nền móng cho tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong thời kỳ đầu đổi mới đất nước. Dưới đây là phần phân tích và tóm tắt chuyên sâu toàn bộ nội dung cốt lõi của đạo luật này:
1. Địa vị pháp lý, tính chất và quyền thành lập Công đoàn (Điều 1 - Điều 3)
Luật xác định rõ ràng bản chất, vị trí và quyền hạn cơ bản của tổ chức Công đoàn trong hệ thống chính trị và xã hội:
- Bản chất và vị trí chính trị: Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động Việt Nam, tự nguyện thành lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thành viên trong hệ thống chính trị và đóng vai trò là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động.
- Quyền thành lập và gia nhập: Mọi người lao động Việt Nam làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đơn vị sự nghiệp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội đều có quyền thành lập và gia nhập công đoàn theo Điều lệ Công đoàn Việt Nam. Các hội hợp pháp của người lao động cũng có quyền gia nhập các Liên đoàn lao động.
- Nguyên tắc hoạt động và tư cách pháp nhân: Công đoàn từ cấp cơ sở trở lên đều có tư cách pháp nhân. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các công đoàn ngành có quyền gia nhập các tổ chức công đoàn quốc tế. Luật nghiêm cấm mọi hành vi cản trở, phân biệt đối xử liên quan đến việc gia nhập và hoạt động công đoàn.
- Mối quan hệ với Nhà nước và người sử dụng lao động: Công đoàn hoạt động độc lập và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Cơ quan Nhà nước, thủ trưởng đơn vị phải tôn trọng quyền độc lập này, đồng thời có trách nhiệm hợp tác, đối thoại, hiệp thương và tạo điều kiện cần thiết cho công đoàn hoạt động.
2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn đại diện, bảo vệ người lao động (Điều 4 - Điều 11)
Đây là nội dung trọng tâm của Luật, quy định chi tiết các quyền hạn của Công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động:
- Tham gia quản lý nhà nước và xây dựng pháp luật: Công đoàn đại diện người lao động tham gia xây dựng chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chính sách quản lý. Đặc biệt, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam có quyền trình dự án luật, pháp lệnh ra trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước. Chủ tịch công đoàn các cấp được quyền tham dự các cuộc họp của cơ quan Nhà nước khi bàn về quyền lợi của người lao động.
- Bảo hộ lao động và an toàn vệ sinh công nghiệp: Công đoàn phối hợp nghiên cứu, xây dựng tiêu chuẩn an toàn lao động; có quyền kiểm tra và đặc biệt là quyền yêu cầu tạm ngừng hoạt động nếu phát hiện nơi làm việc có dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng người lao động. Đại diện công đoàn bắt buộc phải tham gia điều tra các vụ tai nạn lao động.
- Chăm lo đời sống, việc làm và phúc lợi: Tham gia giải quyết việc làm, dạy nghề, quản lý bảo hiểm xã hội, phối hợp quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể tại cơ sở, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch cho người lao động.
- Quyền kiểm tra, giám sát và đối thoại: Công đoàn có quyền kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hợp đồng lao động, tuyển dụng, thôi việc, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội. Thủ trưởng đơn vị phải trả lời các kiến nghị của công đoàn trong thời hạn luật định. Công đoàn cũng là đầu mối tổ chức đối thoại giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động.
- Ký kết thỏa ước và giải quyết tranh chấp: Công đoàn cơ sở đại diện người lao động ký thỏa ước lao động tập thể, giám sát hợp đồng lao động, tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo và thương lượng giải quyết tranh chấp lao động. Đáng chú ý, người lao động chưa là đoàn viên vẫn có quyền yêu cầu Ban chấp hành công đoàn đại diện bảo vệ quyền lợi trước Tòa án hoặc người sử dụng lao động.
3. Cơ chế phối hợp và bảo đảm hoạt động Công đoàn (Điều 12 - Điều 15)
Để đảm bảo công đoàn hoạt động hiệu quả, Luật thiết lập các cơ chế ràng buộc trách nhiệm của người sử dụng lao động và cơ quan nhà nước:
- Nguyên tắc nhất trí trong quyết định nhân sự và phúc lợi: Trước khi quyết định các vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, kỷ luật buộc thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn, giám đốc xí nghiệp quốc doanh, thủ trưởng cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp phải thảo luận và nhất trí với Ban chấp hành công đoàn. Nếu không nhất trí, phải báo cáo cơ quan có thẩm quyền giải quyết trong vòng 30 ngày.
- Bảo đảm điều kiện làm việc và thông tin: Thủ trưởng đơn vị có trách nhiệm cung cấp thông tin cần thiết và tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho công đoàn.
- Chế độ bảo vệ cán bộ công đoàn: Cán bộ công đoàn không chuyên trách được dành một số thời gian nhất định trong giờ làm việc để hoạt động công đoàn và vẫn được hưởng lương. Đặc biệt, khi quyết định buộc thôi việc, thuyên chuyển công tác đối với ủy viên Ban chấp hành công đoàn phải được sự đồng ý của Ban chấp hành cùng cấp; đối với Chủ tịch công đoàn thì phải được công đoàn cấp trên trực tiếp đồng ý.
4. Tài chính, tài sản và điều khoản thi hành (Điều 16 - Điều 19)
Các quy định về kinh tế bảo đảm cho sự độc lập và phát triển bền vững của tổ chức:
- Tự quản tài chính: Công đoàn thực hiện quyền tự quản tài chính theo pháp luật và quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
- Nguồn thu quỹ công đoàn: Bao gồm đoàn phí do đoàn viên đóng; thu từ hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, kinh doanh của công đoàn; viện trợ quốc tế; kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp và tiền trích từ quỹ cơ quan, đơn vị theo quy định của Hội đồng Bộ trưởng.
- Sở hữu tài sản: Tài sản của công đoàn (bao gồm bất động sản, động sản, các quỹ, phương tiện hoạt động...) là tài sản xã hội chủ nghĩa, được pháp luật bảo vệ và thuộc quyền sở hữu riêng của công đoàn.
- Xử lý vi phạm và hiệu lực: Mọi hành vi vi phạm Luật Công đoàn sẽ bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo mức độ. Luật này chính thức thay thế Luật Công đoàn ngày 5-11-1957.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| QUỐC HỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 40-LCT/HĐNN8 | Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 1990 |
CỦA QUỐC HỘI SỐ 40-LCT/HĐNN8 NGÀY 30/06/1990 VỀ CÔNG ĐOÀN
Để phát huy vai trò của công đoàn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ và lợi ích của người lao động;
Căn cứ vào các Điều 10, 32, 83, 86 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Luật này quy định chức năng, quyền và trách nhiệm của công đoàn.
1- Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động.
2- Những người lao động Việt Nam làm việc trong các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế, xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đơn vị sự nghiệp, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội (gọi chung là cơ quan, đơn vị, tổ chức) đều có quyền thành lập và gia nhập công đoàn trong khuôn khổ Điều lệ công đoàn Việt Nam.
Các hội của những người lao động thành lập theo quy định của pháp luật có quyền gia nhập các Liên đoàn lao động.
Khi thành lập, mỗi tổ chức công đoàn thông báo cho cơ quan chính quyền, tổ chức hữu quan để xây dựng quan hệ công tác.
Cấm mọi hành vi cản trở, vi phạm nguyên tắc tự nguyện tham gia tổ chức và hoạt động công đoàn; phân biệt đối xử với lý do người lao động gia nhập, hoạt động công đoàn.
3- Công đoàn từ cấp cơ sở trở lên có tư cách pháp nhân.
4- Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, các công đoàn ngành Việt Nam có quyền gia nhập các tổ chức công đoàn quốc tế phù hợp với mục đích hoạt động của mình.
1- Công đoàn đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.
3- Công đoàn có trách nhiệm tổ chức, giáo dục, động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
1- Trong mọi hoạt động, công đoàn phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật.
Cơ quan Nhà nước, thủ trưởng đơn vị, tổ chức tôn trọng quyền độc lập về tổ chức và các quyền khác của công đoàn quy định tại Luật này.
2- Cơ quan Nhà nước, thủ trưởng đơn vị, tổ chức và công đoàn phải tăng cường mối quan hệ hợp tác trong mọi hoạt động nhằm mục đích xây dựng cơ quan, đơn vị, tổ chức, xây dựng đất nước và chăm lo lợi ích của người lao động; khi có những vấn đề còn có ý kiến khác nhau thì phải tiến hành đối thoại, hiệp thương, tìm cách giải quyết theo đúng pháp luật. Cơ quan Nhà nước, thủ trưởng đơn vị, tổ chức có trách nhiệm tạo điều kiện cần thiết để công đoàn hoạt động.
3- Với sự thoả thuận của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể về mối quan hệ hoạt động giữa cơ quan Nhà nước, thủ trưởng đơn vị, tổ chức với các cấp công đoàn.
QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CÔNG ĐOÀN
1- Công đoàn đại diện và tổ chức người lao động tham gia với Nhà nước xây dựng và thực hiện chương trình phát triển kinh tế - xã hội, chính sách, cơ chế quản lý kinh tế, chủ trương, chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.
Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có quyền tham dự hội nghị của Hội đồng bộ trưởng. Chủ tịch công đoàn các cấp được dự hội nghị của cơ quan Nhà nước, đơn vị, tổ chức hữu quan khi bàn những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.
2- Công đoàn có trách nhiệm tuyên truyền Hiến pháp và pháp luật, giáo dục người lao động ý thức chấp hành và tham gia đấu tranh bảo vệ pháp luật, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, lao động có kỷ luật, có năng suất, chất lượng và hiệu quả.
3- Công đoàn cơ sở cùng với cơ quan, đơn vị, tổ chức bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của tập thể lao động theo quy định của pháp luật.
4- Công đoàn cùng với cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế quốc doanh, đơn vị sự nghiệp và hợp tác xã tổ chức phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa, phát huy mọi tiềm năng của người lao động thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.
1- Trong phạm vi các vấn đề có liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động, Tổng liên đoàn lao động Việt Nam có quyền trình dự án luật, pháp lệnh ra trước Quốc hội và Hội đồng Nhà nước.
2- Công đoàn tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng pháp luật, chính sách, chế độ về lao động, tiền lương, bảo hộ lao động và các chính sách xã hội khác liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.
3- Công đoàn có trách nhiệm đôn đốc, giám sát việc thực hiện các chính sách, chế độ về lao động.
1- Công đoàn phối hợp với cơ quan Nhà nước nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật bảo hộ lao động, xây dựng các tiêu chuẩn, quy phạm an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp.
2- Công đoàn có trách nhiệm giáo dục, vận động người lao động chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về bảo hộ lao động và bảo vệ môi trường.
3- Công đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo hộ lao động. Khi phát hiện nơi làm việc có dấu hiệu nguy hiểm đến tính mạng người lao động, công đoàn có quyền yêu cầu người có trách nhiệm thực hiện ngay các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, kể cả trường hợp phải tạm ngừng hoạt động, nếu thấy cần thiết.
4- Việc điều tra các vụ tai nạn lao động phải có đại diện của công đoàn tham gia. Công đoàn có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước hoặc Toà án xử lý người chịu trách nhiệm để xảy ra tai nạn lao động theo quy định của pháp luật.
Công đoàn tham gia với cơ quan, đơn vị tổ chức hữu quan giải quyết việc làm, tổ chức dạy nghề, nâng cao trình độ nghề nghiệp, văn hoá, khoa học, kỹ thuật cho người lao động.
1- Công đoàn tham gia xây dựng các chính sách xã hội và tham gia với cơ quan Nhà nước quản lý bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật.
2- Công đoàn có trách nhiệm cùng cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan chăm lo đời sống văn hoá, hoạt động thể dục thể thao, tổ chức nghỉ ngơi, du lịch cho người lao động.
3- Công đoàn cơ sở phối hợp với cơ quan, đơn vị, tổ chức quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể, phục vụ lợi ích của người lao động.
1- Trong phạm vi chức năng của mình, công đoàn kiểm tra việc chấp hành pháp luật về hợp đồng lao động, tuyển dụng, cho thôi việc, tiền lương, tiền thưởng, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội và các chính sách liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.
2- Khi kiểm tra, công đoàn yêu cầu thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức trả lời những vấn đề đặt ra, kiến nghị biện pháp sửa chữa các thiếu sót, ngăn ngừa vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm pháp luật.
3- Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức phải trả lời cho công đoàn biết kết quả giải quyết những kiến nghị do công đoàn nêu ra trong thời hạn pháp luật quy định. Những vấn đề không giải quyết được phải nói rõ lý do.
Công đoàn đại diện cho người lao động yêu cầu thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức tiếp và trả lời các vấn đề do người lao động đặt ra.
Khi cần thiết, công đoàn tổ chức đối thoại giữa tập thể lao động với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan để giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.
1- Công đoàn cơ sở đại diện cho người lao động ký thoả ước lao động tập thể với giám đốc xí nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; giám sát việc ký kết và thực hiện hợp đồng lao động.
2- Công đoàn tham gia với cơ quan Nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo của người lao động theo pháp luật.
3- Công đoàn đại diện cho người lao động thương lượng với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức để giải quyết các tranh chấp lao động xảy ra trong cơ quan, đơn vị, tổ chức mình.
Khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc Toà án xét xử tranh chấp lao động phải có đại diện của công đoàn tham dự và phát biểu ý kiến.
4- Người lao động, dù chưa là đoàn viên công đoàn cũng có quyền yêu cầu Ban chấp hành công đoàn đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Toà án, thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan.
1- Cơ quan Nhà nước, thủ trưởng đơn vị, tổ chức cần phải thảo luận với công đoàn cùng cấp trước khi quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ và lợi ích của người lao động.
2- Trước khi quyết định các vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, thi hành kỷ luật đến mức buộc người lao động thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn thì giám đốc xí nghiệp quốc doanh, thủ trưởng cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp phải thảo luận, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn.
Trong trường hợp không nhất trí về những vấn đề quy định tại khoản này thì hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải trả lời.
Hội đồng bộ trưởng và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quy định cụ thể trình tự, thủ tục giải quyết các trường hợp không nhất trí giữa công đoàn với thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức.
Các vấn đề thuộc phạm vi tranh chấp lao động thì giải quyết theo pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động.
3- Những vấn đề thuộc phạm vi thảo luận và nhất trí giữa Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và Hội đồng bộ trưởng thì giải quyết theo Quy chế phối hợp hoạt động giữa hai bên.
Căn cứ vào những quy định tại Luật này, Hội đồng bộ trưởng cùng với Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quy định cụ thể quyền và trách nhiệm công đoàn cơ sở phù hợp với đặc điểm của từng loại cơ quan, đơn vị, tổ chức và xí nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, hợp tác xã.
NHỮNG BẢO ĐẢM HOẠT ĐỘNG CÔNG ĐOÀN
Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức tạo điều kiện làm việc, cung cấp thông tin cần thiết để công đoàn thực hiện chức năng, quyền, trách nhiệm của mình.
Với sự thoả thuận của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Hội đồng bộ trưởng quy định cụ thể các vấn đề này.
1- Thủ trưởng cơ quan, đơn vị, tổ chức tạo điều kiện thuận lợi để người lao động làm tròn nhiệm vụ khi họ được bầu vào Ban chấp hành công đoàn hoặc được công đoàn giao nhiệm vụ.
2- Cán bộ công đoàn không chuyên trách được dành một số thời gian nhất định trong giờ làm việc để hoạt động công đoàn. Hội đồng bộ trưởng và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quy định cụ thể thời gian và điều kiện hoạt động của cán bộ công đoàn không chuyên trách.
3- Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quy định số lượng cán bộ hoạt động chuyên trách công đoàn.
Tiền lương của cán bộ chuyên trách do Tổng liên đoàn lao động Việt Nam quy định theo chính sách chung và do quỹ công đoàn đài thọ.
4- Khi quyết định buộc thôi việc, cho thôi việc hoặc chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn và thuyên chuyển công tác đối với uỷ viên Ban chấp hành công đoàn thì phải được Ban chấp hành công đoàn cùng cấp thoả thuận; đối với Chủ tịch Ban chấp hành công đoàn thì phải được công đoàn cấp trên trực tiếp thoả thuận.
2- Các nguồn thu vào quỹ công đoàn gồm có :
a) Tiền do đoàn viên công đoàn đóng góp; thu được từ hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch, kinh doanh của công đoàn; do các tổ chức quốc tế, các công đoàn nước ngoài ủng hộ;
b) Kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp; tiền trích từ quỹ cơ quan, đơn vị, tổ chức chuyển vào quỹ công đoàn theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.
Tài sản của công đoàn là tài sản xã hội chủ nghĩa, được pháp luật bảo vệ và khuyến khích phát triển, phải quản lý và sử dụng đúng pháp luật.
Các bất động sản, động sản, các quỹ công đoàn, các phương tiện hoạt động và các tài sản khác do công đoàn tạo nên, do nước ngoài viện trợ cho công đoàn là tài sản thuộc quyền sở hữu của công đoàn.
Người vi phạm các quy định của Luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Luật này thay thế Luật công đoàn ngày 5-11-1957.
Các quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990.
|
| CHỦ TỊCH QUỐC HỘI |
Law No. 40-LCT/HDNN8 of June 30, 1990, on the trade unions.
- Số hiệu: 40-LCT/HDNN8
- Loại văn bản: Luật
- Ngày ban hành: 30/06/1990
- Nơi ban hành: Quốc hội
- Người ký: Lê Quang Đạo
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/07/1990
- Ngày hết hiệu lực: 01/01/2013
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
