Quyết định số 225/1999/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000 - 2005. Đây là một chính sách quan trọng nhằm thúc đẩy phát triển nông, lâm nghiệp thông qua việc nâng cao chất lượng và số lượng nguồn giống, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại và hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước về giống.
Dưới đây là tóm tắt chi tiết toàn bộ nội dung, chính sách cốt lõi của Quyết định này:
- Mục tiêu của chương trình giống giai đoạn 2000 - 2005
- Đảm bảo cung cấp đủ giống chất lượng tốt cho nhu cầu sản xuất, ưu tiên các ngành sản xuất chủ lực, có kim ngạch xuất khẩu lớn hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của nông dân như: lúa gạo, cà phê, cao su, chè, điều, hồ tiêu, rau, cây ăn quả, cây có dầu, mía đường, cây thức ăn chăn nuôi, lợn, bò thịt, bò sữa, gia cầm và các loại cây lâm nghiệp phục vụ sản xuất giấy, gỗ.
- Ứng dụng công nghệ khoa học mới kết hợp truyền thống, chú trọng sử dụng ưu thế lai, bảo tồn đa dạng sinh học và từng bước đưa công nghệ sinh học vào quá trình lai tạo giống.
- Xây dựng hệ thống sản xuất và dịch vụ giống cây trồng, vật nuôi, cây lâm nghiệp vận hành phù hợp với cơ chế thị trường.
- Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, lai tạo, sản xuất và cung ứng giống tốt.
- Tổ chức thực hiện và huy động nguồn lực xã hội
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong ngành, đồng thời huy động các viện, trường ngoài ngành tham gia nghiên cứu, tuyển chọn và sản xuất giống.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tham gia vào chuỗi tuyển chọn, lai tạo, nhân giống và cung ứng; đồng thời tích cực tranh thủ hợp tác quốc tế.
- Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm xây dựng, củng cố và nâng cấp các cơ sở giống hiện có tại địa phương, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất và cung ứng giống tại địa bàn.
- Chính sách đầu tư và tín dụng phát triển giống
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn sự nghiệp) tập trung đầu tư cho:
- Nghiên cứu khoa học về giống: Đầu tư cho các Viện nghiên cứu, trường đại học nông, lâm nghiệp để nâng cao năng lực nghiên cứu cơ bản và ứng dụng. Đặc biệt, đầu tư nâng cấp Viện Di truyền nông nghiệp thành Viện Công nghệ sinh học trong nông nghiệp.
- Lưu giữ nguồn gen: Giao các Viện nghiên cứu nuôi trồng, bảo vệ nguồn gen. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với các địa phương quy hoạch khu vực rừng tự nhiên (vườn thực vật) để duy trì, bảo vệ nguồn gen động, thực vật.
- Sản xuất các cấp giống chất lượng cao: Giống gốc, giống siêu nguyên chủng, giống nguyên chủng, giống cụ kỵ, giống ông bà.
- Nhập nội nguồn gen và các giống mới từ nước ngoài để tiếp thu nhanh thành tựu khoa học kỹ thuật thế giới.
- Ngân sách địa phương hỗ trợ sản xuất giống kỹ thuật cao, hỗ trợ nông dân nghèo tiếp cận giống tốt, và hỗ trợ tinh phối giống tốt cho bò sữa, bò thịt.
- Chính sách vốn tín dụng: Ưu tiên nguồn vốn tín dụng cho các viện, trường, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế vay để sản xuất giống thương mại. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ưu tiên vốn vay cho các dự án thử nghiệm thuộc chương trình giống.
- Quản lý đầu tư: Các hoạt động đầu tư, phát triển giống phải được xây dựng thành dự án cụ thể và phê duyệt theo quy định hiện hành. Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm cân đối, bảo đảm đủ vốn hàng năm theo tiến độ dự án được duyệt.
- Chính sách bản quyền tác giả và ưu đãi thuế
- Chính sách bản quyền: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường có nhiệm vụ trình Chính phủ chính sách bản quyền tác giả về giống. Định hướng coi sản phẩm khoa học là hàng hóa; Nhà nước mua lại bản quyền đối với nghiên cứu cơ bản hoặc giống phục vụ lợi ích xã hội; đối với các loại giống khác, phải giải quyết hài hòa lợi ích giữa nhà khoa học tạo giống và người kinh doanh giống.
- Chính sách thuế: Bộ Tài chính nghiên cứu, tổng hợp trình Chính phủ báo cáo Quốc hội sửa đổi, bổ sung thuế sử dụng đất nông nghiệp theo hướng áp dụng mức thuế suất 0% đối với các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp.
- Đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo cán bộ kỹ thuật, đặc biệt là các chuyên gia, cán bộ khoa học đầu ngành về công tác giống (bao gồm cả đào tạo tại nước ngoài).
- Lồng ghép hoạt động đào tạo, phổ cập kiến thức về giống cho nông dân thông qua các chương trình khuyến nông, khuyến lâm để người dân chủ động tham gia chương trình.
- Tăng cường quản lý nhà nước về giống cây trồng và vật nuôi theo Nghị định số 07/CP ngày 05/02/1996 và Nghị định số 14/CP ngày 19/03/1996. Tập trung vào công tác cấp chứng chỉ chất lượng giống, giấy phép kinh doanh, thanh tra, kiểm tra sản xuất kinh doanh giống, và quy định rõ trách nhiệm về chất lượng giống của người kinh doanh đối với người sử dụng.
- Điều khoản thi hành
- Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký (ngày ký: 10 tháng 12 năm 1999).
- Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
Số: 225/1999/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 1999 |
QUYẾT ĐỊNH
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;
Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt chương trình giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thời kỳ 2000 - 2005 nhằm:
1. Đảm bảo đủ giống có chất lượng tốt để cung cấp cho nhu cầu phát triển sản xuất, trước hết là các ngành sản xuất quan trọng liên quan tới thu nhập của đông đảo nông dân và có kim ngạch xuất khẩu lớn như lúa gạo, cà phê, cao su, chè, điều, hồ tiêu, rau và cây ăn quả, cây có dầu, mía đường, cây thức ăn chăn nuôi, lợn, bò thịt, bò sữa, gia cầm, các loại cây lâm nghiệp quan trọng phục vụ nhu cầu sản xuất giấy và sản xuất gỗ,...
2. áp dụng khoa học công nghệ mới và truyền thống theo hướng sử dụng ưu thế lai, đồng thời giữ được tính đa dạng sinh học, từng bước áp dụng công nghệ sinh học trong lai tạo giống;
3. Hình thành hệ thống sản xuất và dịch vụ giống cây trồng, giống vật nuôi, giống cây lâm nghiệp phù hợp với cơ chế thị trường;
4. Khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia nghiên cứu, lai tạo và sản xuất giống tốt, cung ứng cho nhu cầu sản xuất.
Điều 2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn và huy động các viện, trường ngoài ngành tham gia nghiên cứu, tạo giống, tuyển chọn giống và sản xuất giống; khuyến khích và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia tuyển chọn, lai tạo, nhân giống, sản xuất giống và cung ứng giống; tranh thủ hợp tác quốc tế về công tác giống.
Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có kế hoạch xây dựng và củng cố nâng cấp các cơ sở giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp hiện có, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia nhân giống, sản xuất giống và cung ứng giống cho nhu cầu sản xuất.
Điều 3. Đầu tư và tín dụng.
1. Ngân sách nhà nước (bao gồm cả vốn sự nghiệp) đầu tư cho:
a) Nghiên cứu khoa học về giống, các Bộ: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kế hoạch và Đầu tư, Khoa học, Công nghệ và Môi trường có kế hoạch đầu tư cho một số Viện nghiên cứu khoa học, trường đại học về nông, lâm nghiệp, để tăng cường nghiên cứu khoa học cơ bản và ứng dụng nhằm nâng cao nhanh trình độ và hiệu quả về công tác nghiên cứu giống. Cần đầu tư cho Viện Di truyền nông nghiệp để xây dựng thành Viện Công nghệ sinh học trong nông nghiệp.
b) Giữ nguồn gen (bao gồm cả việc nuôi trồng và bảo vệ): Giao cho các Viện nghiên cứu khoa học thực hiện việc nuôi, trồng nguồn gen, đồng thời Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với ủy ban nhân dân một số tỉnh quy hoạch, bố trí một khu vực rừng tự nhiên (vườn thực vật), để duy trì, bảo vệ, nuôi trồng, giữ nguồn gen các loại thực vật và động vật;
c) Sản xuất giống gốc, giống siêu nguyên chủng, giống nguyên chủng giống cụ kỵ, giống ông bà;
d) Nhập nội nguồn gen và những giống mới cần thiết để tiếp thu nhanh những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới;
e) Ngân sách địa phương hỗ trợ một phần cho việc sản xuất các loại giống đòi hỏi kỹ thuật cao hỗ trợ nông dân nghèo có điều kiện để có giống tốt đưa vào sản xuất, hỗ trợ tinh để phối giống tốt về bò sữa, bò thịt.
2. Vốn tín dụng: ưu tiên dành cho sản xuất giống thương mại của các viện, trường, các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế vay vốn để sản xuất giống.
Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường ưu tiên vốn vay cho các dự án thử nghiệm để thực hiện chương trình giống này.
Điều 4. Việc đầu tư, phát triển giống cây trồng, giống vật nuôi và giống cây lâm nghiệp phải có dự án cụ thể và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành.
Căn cứ dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cân đối trong kế hoạch vốn hàng năm bảo đảm đủ vốn cho từng dự án theo kế hoạch và tiến độ đầu tư được duyệt.
Điều 5. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường sớm trình Chính phủ chính sách bản quyền tác giả về giống theo hướng: sản phẩm khoa học phải trở thành hàng hóa; Nhà nước mua lại bản quyền về những sản phẩm thuộc về nghiên cứu cơ bản, các loại giống của những đối tượng sản xuất vì lợi ích xã hội; với bản quyền tác giả về những giống khác phải giải quyết thỏa đáng lợi ích của nhà khoa học tạo giống và người kinh doanh giống.
Điều 6. Bộ Tài chính nghiên cứu tổng hợp trình Chính phủ báo cáo Quốc hội sửa đổi, bổ sung thuế sử dụng đất nông nghiệp theo hướng: đối với các cơ sở nghiên cứu, sản xuất giống cây trồng, vật nuôi và giống cây lâm nghiệp thuế suất bằng 0%.
Điều 7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có quy hoạch, kế hoạch đào tạo cán bộ kỹ thuật, nhất là cán bộ khoa học đầu ngành về công tác giống (kể cả việc đào tạo nước ngoài). Các chương trình khuyến nông, khuyến lâm phải tăng cường đào tạo, phổ cập kiến thức công tác giống cho nông dân để họ cùng tham gia chương trình này.
Phối hợp với ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tốt nội dung quản lý nhà nước về giống cây trồng, giống vật nuôi đã được quy định tại Nghị định số 07/CP ngày 05 tháng 02 năm 1996 của Chính phủ về quản lý giống cây trồng và Nghị định số 14/CP ngày 19 tháng 3 năm 1996 của Chính phủ về quản lý giống vật nuôi, trước hết việc cấp giấy chứng nhận chứng chỉ chất lượng giống, giấy phép kinh doanh, kiểm tra, thanh tra thực hiện việc sản xuất kinh doanh giống. Có quy định gắn trách nhiệm về chất lượng giống của người kinh doanh đối với người sử dụng giống.
Điều 8. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Điều 9. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
| KT. THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
Decision No. 225/1999/QD-TTg of December 10, 1999, approving the program of plant seeds, livestock breeds and forest tree seeds in the 2000-2005 period
- Số hiệu: 225/1999/QD-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 10/12/1999
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Công Tạn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/12/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
