Quyết định số 151/2007/QĐ-TTg ban hành ngày 12 tháng 9 năm 2007 quy định chi tiết về việc nhập khẩu các loại thuốc chưa có số đăng ký tại Việt Nam. Đây là văn bản pháp lý quan trọng nhằm giải quyết nhu cầu sử dụng thuốc đặc trị, thuốc hiếm, thuốc phục vụ phòng chống dịch bệnh, thiên tai và các chương trình y tế quốc gia khi nguồn cung trong nước chưa đáp ứng đủ.
Thông tin chung về Quyết định 151/2007/QĐ-TTgQuyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng Công báo và bãi bỏ các quy định trước đây trái với Quyết định này. Bộ trưởng Bộ Y tế chịu trách nhiệm hướng dẫn, thi hành và quy định chi tiết các thủ tục liên quan.
Điều kiện đối với thương nhân cung cấp và nhập khẩu thuốc- Thương nhân nước ngoài: Phải là doanh nghiệp có giấy phép hoạt động tại Việt Nam do Bộ Y tế cấp. Trong trường hợp đặc biệt phục vụ nhu cầu phòng và điều trị bệnh khẩn cấp mà các doanh nghiệp có giấy phép không cung cấp được, Bộ trưởng Bộ Y tế sẽ xem xét quyết định cho phép nhập khẩu từ các doanh nghiệp cung cấp thuốc có uy tín trên thế giới.
- Trách nhiệm của các bên: Thương nhân sản xuất, cung cấp, nhập khẩu và ủy thác nhập khẩu phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về chất lượng, tính an toàn của thuốc theo quy định của Luật Dược, Luật Thương mại và các quy định chuyên môn của Bộ Y tế.
Để bảo đảm an toàn cho người sử dụng, thuốc chưa có số đăng ký khi nhập khẩu vào Việt Nam phải tuân thủ nghiêm ngặt các điều kiện sau:
- Hạn dùng của thuốc thành phẩm: Phải còn hạn dùng tối thiểu là 18 tháng kể từ ngày đến cảng Việt Nam. Đối với thuốc có tổng hạn dùng từ 24 tháng trở xuống, hạn dùng còn lại tối thiểu phải là 12 tháng.
- Hạn dùng của vắc xin và sinh phẩm y tế: Phải còn ít nhất 2/3 hạn dùng kể từ khi đến cảng Việt Nam.
- Hạn dùng của nguyên liệu làm thuốc: Phải còn hạn dùng trên 03 năm kể từ ngày đến cảng Việt Nam. Đối với nguyên liệu có hạn dùng từ 3 năm trở xuống, thời gian từ ngày sản xuất đến ngày về cảng Việt Nam không được quá 06 tháng (quy định này không áp dụng đối với dược liệu).
- Trường hợp đặc biệt về hạn dùng: Nếu thuốc không đáp ứng các điều kiện trên nhưng thực sự cần thiết cho điều trị hoặc sản xuất trong nước, Bộ trưởng Bộ Y tế sẽ xem xét, quyết định và chịu trách nhiệm.
- Nhãn thuốc: Phải thực hiện đúng quy định tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP, Luật Dược và các hướng dẫn ghi nhãn của Bộ Y tế.
- Kê khai giá thuốc: Cơ sở nhập khẩu phải thực hiện kê khai giá nhập khẩu, giá bán buôn và giá bán lẻ dự kiến tại Việt Nam theo quy định quản lý nhà nước về giá thuốc.
- Hành vi bị nghiêm cấm: Nghiêm cấm nhập khẩu các loại thuốc chưa có số đăng ký nằm trong Danh mục các thuốc cấm nhập khẩu do Bộ Y tế ban hành.
Thuốc thành phẩm chưa có số đăng ký nhập khẩu vào Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện kỹ thuật và pháp lý chặt chẽ:
- Điều kiện lưu hành và sản xuất: Phải được cơ quan quản lý có thẩm quyền của nước sản xuất cho phép lưu hành tại nước sở tại (hoặc ít nhất một nước tham gia sản xuất nếu có nhiều nước tham gia). Cơ sở sản xuất phải đạt tiêu chuẩn "Thực hành tốt sản xuất thuốc" (GMP). Trường hợp thuốc chỉ sản xuất để xuất khẩu nhưng cần thiết cho điều trị, Bộ trưởng Bộ Y tế có thể xem xét cho phép nhập khẩu.
- Thuốc kiểm soát đặc biệt: Thuốc chứa hoạt chất gây nghiện, hướng tâm thần và tiền chất phải tuân thủ thêm các quy chế chuyên môn đặc thù của Bộ Y tế.
- Thuốc mới: Thuốc mới chưa được miễn thử lâm sàng chỉ được xem xét nhập khẩu sau khi đã hoàn thành nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng và đáp ứng đầy đủ các quy định liên quan của Bộ Y tế.
- Các trường hợp được xem xét nhập khẩu: Thuốc chứa dược chất có ít số đăng ký tại Việt Nam; thuốc có số đăng ký đã hết hạn hoặc không đăng ký lại; thuốc đã lưu hành trên thế giới nhưng chưa từng đăng ký tại Việt Nam (trừ dược chất mới); thuốc hiếm, thuốc chuyên khoa, đặc trị hoặc có dạng bào chế đặc biệt trong nước chưa sản xuất được.
- Quy định về số lượng nhập khẩu: Số lượng nhập khẩu phải đủ đáp ứng nhu cầu điều trị thực tế đối với từng trường hợp cụ thể. Đối với phòng chống dịch bệnh, thiên tai, số lượng căn cứ theo xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền. Đối với nhu cầu điều trị đặc biệt của bệnh viện, số lượng căn cứ vào dự trù của bệnh viện và chỉ sử dụng nội bộ, nghiêm cấm bán ra thị trường. Đối với chương trình mục tiêu y tế quốc gia, phải nhập khẩu ủy thác qua doanh nghiệp đủ điều kiện và nhãn thuốc phải ghi rõ "Thuốc chương trình y tế quốc gia" hoặc "Thuốc dự án y tế quốc gia".
Thuốc viện trợ, viện trợ nhân đạo từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài gửi tặng phải đảm bảo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt:
- Yêu cầu chất lượng và lưu hành: Phải được phép lưu hành tại nước sở tại. Đối với vắc xin và sinh phẩm y tế, phải nằm trong danh mục được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo sử dụng.
- Sự phù hợp: Phải đáp ứng đúng nhu cầu thực tế của đơn vị nhận viện trợ và phù hợp với Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam.
- Danh mục cấm: Không được thuộc danh mục thuốc gây nghiện hoặc danh mục thuốc cấm nhập khẩu vào Việt Nam.
- Kiểm định chất lượng: Phải có nguồn gốc rõ ràng. Vắc xin và sinh phẩm y tế viện trợ phải có phiếu kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn của cơ quan kiểm định quốc gia nước sở tại và phải được Viện Kiểm định quốc gia vắc xin và sinh phẩm y tế của Việt Nam đánh giá chất lượng trước khi thông quan.
- Bao bì và nhãn mác: Đóng gói phù hợp, ghi rõ tên thuốc, hoạt chất, hàm lượng, dạng bào chế, quy cách đóng gói và kèm theo hướng dẫn sử dụng chi tiết.
- Hạn dùng của thuốc viện trợ: Đối với thuốc có hạn dùng từ 02 năm trở lên, hạn dùng còn lại phải đạt tối thiểu 01 năm kể từ ngày đến cảng Việt Nam. Đối với thuốc có hạn dùng dưới 02 năm, hạn dùng còn lại phải đạt ít nhất 1/3 hạn dùng của thuốc.
- Trường hợp đặc biệt: Thuốc viện trợ phục vụ cho các chương trình nghiên cứu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên có thể được xem xét tiếp nhận dựa trên các tài liệu pháp lý và kỹ thuật cụ thể của chương trình.
- Thuốc thử lâm sàng: Nhập khẩu theo đúng quy định về thử thuốc trên lâm sàng của Bộ Y tế, số lượng phải phù hợp với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu này.
- Thuốc làm mẫu đăng ký: Mỗi loại thuốc chỉ được nhập khẩu tối đa không quá 05 đơn vị đóng gói phù hợp với mẫu dự kiến lưu hành.
- Thuốc tham gia triển lãm, hội chợ: Phải được cấp phép lưu hành tại nước xuất khẩu, chỉ dùng cho mục đích trưng bày, thực hiện thủ tục tạm nhập tái xuất theo Luật Thương mại và phải báo cáo Bộ Y tế bằng văn bản sau khi tái xuất.
- Thuốc phục vụ nghiên cứu, kiểm nghiệm: Chỉ được sử dụng đúng mục đích nghiên cứu, kiểm nghiệm với số lượng phù hợp.
Nguyên liệu làm thuốc chưa có số đăng ký được phép nhập khẩu trong các trường hợp sau:
- Phục vụ nhu cầu sản xuất của các cơ sở sản xuất thuốc trong nước.
- Phục vụ công tác nghiên cứu, kiểm nghiệm với số lượng phù hợp.
- Làm mẫu để đăng ký lưu hành tại Việt Nam với khối lượng đủ cho yêu cầu kiểm nghiệm.
- Yêu cầu chất lượng: Nguyên liệu nhập khẩu phải có tiêu chuẩn chất lượng rõ ràng và bảo đảm đúng tiêu chuẩn đã cam kết trên đơn hàng nhập khẩu.
- Nguyên liệu kiểm soát đặc biệt: Nguyên liệu là thuốc gây nghiện, hướng tâm thần và tiền chất phải tuân thủ các quy định chuyên môn nghiêm ngặt của Bộ Y tế và pháp luật liên quan.
- Quy định chuyển tiếp: Các giấy phép nhập khẩu thuốc chưa có số đăng ký đã được cấp trước ngày Quyết định này có hiệu lực vẫn tiếp tục được thực hiện cho đến khi hết thời hạn ghi trên giấy phép.
- Trách nhiệm của Bộ Y tế: Bộ trưởng Bộ Y tế chịu trách nhiệm quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp phép nhập khẩu; quyết định số lượng thuốc nhập khẩu cho từng trường hợp cụ thể; đồng thời quản lý việc tiếp nhận và sử dụng thuốc viện trợ, viện trợ nhân đạo từ nước ngoài vào Việt Nam.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
| CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
| Số: 151/2007/QĐ-TTg | Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2007 |
BAN HÀNH QUY ĐỊNH VỀ VIỆC NHẬP KHẨU THUỐC CHƯA CÓ SỐ ĐĂNG KÝ TẠI VIỆT NAM
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Dược ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Luật Phòng, chống ma túy ngày 22 tháng 12 năm 2000;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 3. Bộ trưởng Bộ Y tế chịu trách nhiệm hướng dẫn, thi hành Quyết định này.
Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
|
Nơi nhận: - Ban Bí thư Trung ương Đảng; - Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP; - Văn phòng BCĐTW về phòng, chống tham nhũng; - HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW; - Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng; - Văn phòng Chủ tịch nước; - Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; - Văn phòng Quốc hội; - Tòa án nhân dân tối cao; - Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; - Kiểm toán Nhà nước; - Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh; - Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; - Cơ quan Trung ương của các đoàn thể; - VPCP: BTCN, các PCN, Website CP, Ban Điều hành 112, Người phát ngôn của TTCP, các Vụ, Cục, các đơn vị trực thuộc, Công báo; - Lưu: Văn thư, VX (5b). | THỦ TƯỚNG
Nguyễn Tấn Dũng
|
VỀ VIỆC NHẬP KHẨU THUỐC CHƯA CÓ SỐ ĐĂNG KÝ TẠI VIỆT
(Ban hành kèm theo Quyết định số 151/2007/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ)
1. Quy định này quy định việc nhập khẩu thuốc chưa có số đăng ký tại Việt Nam (sau đây gọi là thuốc chưa có số đăng ký), trong các trường hợp sau:
a) Có chứa dược chất chưa có số đăng ký hoặc đã có số đăng ký nhưng chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu điều trị;
b) Đáp ứng nhu cầu cấp bách cho phòng, chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa và nhu cầu điều trị đặc biệt;
c) Phục vụ cho các chương trình mục tiêu y tế quốc gia;
d) Viện trợ, viện trợ nhân đạo;
đ) Thử lâm sàng, làm mẫu đăng ký, tham gia trưng bày triển lãm, hội chợ;
e) Nhập khẩu thuốc phi mậu dịch phục vụ công tác nghiên cứu, kiểm nghiệm.
2. Thuốc nhập khẩu mang theo để chữa bệnh cho bản thân thực hiện theo quy định tại Quyết định số 71/2002/QĐ-TTg ngày 07 tháng 6 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý thuốc chữa bệnh cho người theo đường xuất khẩu, nhập khẩu phi mậu dịch.
Quy định này áp dụng đối với các thương nhân Việt Nam; các thương nhân nước ngoài cung cấp thuốc vào Việt Nam; các tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến nhập khẩu, viện trợ, viện trợ nhân đạo thuốc chưa có số đăng ký tại Việt Nam.
Điều 3. Nguyên tắc quản lý đối với thuốc chưa có số đăng ký nhập khẩu vào Việt Nam
Thuốc chưa có số đăng ký chỉ được phép nhập khẩu theo hình thức Giấy phép nhập khẩu. Giấy phép nhập khẩu thuốc chưa có số đăng ký có giá trị tối đa 01 năm kể từ ngày ký.
Điều 4. Điều kiện đối với thương nhân Việt Nam nhập khẩu thuốc chưa có số đăng ký
Các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp bán buôn thuốc có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc và có kho thuốc đạt tiêu chuẩn về Thực hành tốt bảo quản thuốc được phép nhập khẩu thuốc theo quy định của pháp luật về dược, quy định của Bộ Y tế và các quy định pháp luật liên quan.
Điều 5. Điều kiện đối với thương nhân nước ngoài cung cấp thuốc chưa có số đăng ký vào Việt Nam
Thương nhân nước ngoài cung cấp thuốc chưa có số đăng ký nhập khẩu vào Việt Nam phải là các doanh nghiệp có giấy phép hoạt động tại Việt Nam do Bộ Y tế cấp. Trường hợp các thuốc cần cho nhu cầu phòng và điều trị bệnh nhưng các doanh nghiệp nước ngoài có giấy phép hoạt động không cung cấp, Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét, quyết định cho phép nhập khẩu từ các doanh nghiệp cung cấp thuốc có uy tín trên thế giới.
Điều 6. Quy định chung đối với thuốc chưa có số đăng ký nhập khẩu vào Việt Nam
1. Chất lượng thuốc
Thương nhân nước ngoài sản xuất, cung cấp thuốc; thương nhân nhập khẩu thuốc; thương nhân uỷ thác, nhận uỷ thác nhập khẩu thuốc phải chịu trách nhiệm về chất lượng, an toàn của thuốc nhập khẩu theo quy định của Luật Dược, Luật Thương mại, các quy định chuyên môn về quản lý chất lượng thuốc của Bộ Y tế và các quy định khác của pháp luật liên quan.
a) Thuốc thành phẩm chưa có số đăng ký nhập khẩu vào Việt Nam phải có hạn dùng còn lại tối thiểu là 18 tháng kể từ ngày đến cảng Việt Nam. Đối với thuốc có hạn dùng bằng hoặc dưới 24 tháng thì hạn dùng còn lại tối thiểu phải là 12 tháng kể từ ngày đến cảng Việt Nam;
b) Đối với vắc xin, sinh phẩm y tế chưa có số đăng ký phải có hạn dùng còn lại ít nhất là 2/3 hạn dùng kể từ khi đến cảng Việt Nam;
c) Nguyên liệu làm thuốc chưa có số đăng ký nhập khẩu vào Việt Nam phải có hạn dùng còn lại trên 03 năm kể từ ngày đến cảng Việt Nam, đối với nguyên liệu có hạn dùng bằng hoặc dưới 03 năm thì ngày về đến cảng Việt Nam không được quá 06 tháng kể từ ngày sản xuất. Quy định này không áp dụng đối với dược liệu;
d) Trường hợp các thuốc không đáp ứng các quy định về hạn dùng của thuốc tại các điểm a, b, c, khoản 2 Điều này nhưng cần thiết nhập khẩu để phục vụ nhu cầu điều trị và nhu cầu sản xuất thuốc trong nước, Bộ trưởng Bộ Y tế xem xét, quyết định và chịu trách nhiệm.
3. Nhãn thuốc chưa có số đăng ký nhập khẩu
Nhãn thuốc chưa có số đăng ký nhập khẩu phải thực hiện theo đúng quy định tại Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ về nhãn hàng hóa, Điều 37 của Luật Dược và các quy định của Bộ Y tế về ghi nhãn thuốc.
4. Kê khai giá thuốc chưa có số đăng ký nhập khẩu
Khi nộp hồ sơ nhập khẩu thuốc chưa có số đăng ký, tuỳ theo hình thức kinh doanh bán buôn, bán lẻ đối với từng mặt hàng, cơ sở nhập khẩu thuốc phải kê khai giá nhập khẩu, giá bán buôn và giá bán lẻ dự kiến tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về quản lý nhà nước về giá thuốc.
5. Nghiêm cấm việc nhập khẩu vào Việt Nam các thuốc chưa có số đăng ký thuộc Danh mục các thuốc cấm nhập khẩu do Bộ Y tế quy định.
QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ NHẬP KHẨU THUỐC THÀNH PHẨM CHƯA CÓ SỐ ĐĂNG KÝ
1. Các thuốc thành phẩm chưa có số đăng ký quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 1 nhập khẩu vào Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:
a) Phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của nước sản xuất cho phép lưu hành tại nước sở tại. Trong trường hợp có nhiều doanh nghiệp của các nước khác nhau tham gia sản xuất cùng một sản phẩm thì phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của ít nhất một trong các nước tham gia sản xuất cho phép lưu hành tại nước đó;
b) Cơ sở sản xuất thuốc phải được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền của nước sở tại cấp Giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn Thực hành tốt sản xuất thuốc;
c) Trường hợp thuốc chỉ được phép sản xuất dành cho xuất khẩu nhưng cần thiết cho nhu cầu điều trị, Bộ trưởng Bộ Y tế có thể xem xét cho phép nhập khẩu;
d) Thuốc thành phẩm có chứa thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc chưa có số đăng ký phải thực hiện theo các quy định tại Quy định này, các quy chế chuyên môn của Bộ Y tế và các quy định khác của pháp luật liên quan;
đ) Thuốc chưa có số đăng ký là thuốc mới theo quy định tại khoản 18 Điều 2 của Luật Dược và không thuộc trường hợp được miễn thử lâm sàng hoặc miễn một số giai đoạn thử lâm sàng theo quy định tại Điều 55 của Luật Dược nhưng cần thiết cho nhu cầu điều trị có thể xem xét cho phép nhập khẩu sau khi đã hoàn thành việc nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng và đáp ứng các quy định của Bộ Y tế về thử thuốc trên lâm sàng.
2. Thuốc chưa có số đăng ký (có chứa dược chất chưa có số đăng ký hoặc đã có số đăng ký) nhưng chưa đáp ứng đủ nhu cầu điều trị ngoài việc phải đáp ứng các quy định tại khoản 1 Điều này, còn phải thuộc một trong các trường hợp sau:
a) Thuốc chứa dược chất thuộc các nhóm tác dụng dược lý hoặc dạng bào chế có ít số đăng ký lưu hành tại Việt Nam căn cứ vào danh mục thuốc có số đăng ký lưu hành tại Việt Nam theo từng giai đoạn;
b) Thuốc chứa dược chất trước đây đã có số đăng ký lưu hành ở Việt Nam nhưng tại thời điểm nộp hồ sơ nhập khẩu, số đăng ký lưu hành hết hiệu lực hoặc không đăng ký lại;
c) Thuốc chứa dược chất đã được lưu hành ở các nước trên thế giới nhưng chưa từng có số đăng ký tại Việt Nam, trừ các dược chất mới;
d) Thuốc hiếm, thuốc chuyên khoa, đặc trị, thuốc có dạng bào chế đặc biệt trong nước chưa sản xuất được.
3. Số lượng được phép nhập khẩu:
a) Đối với thuốc có chứa dược chất chưa có số đăng ký hoặc đã có số đăng ký nhưng chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu điều trị được phép nhập khẩu với số lượng đủ đáp ứng nhu cầu điều trị căn cứ từng trường hợp cụ thể;
b) Thuốc thành phẩm chưa có số đăng ký nhập khẩu để đáp ứng nhu cầu cấp bách cho phòng, chống dịch bệnh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa được phép nhập khẩu với số lượng căn cứ xác nhận của cơ quan quản lý nhà nước về y tế có thẩm quyền về tình trạng dịch bệnh, thiên tai, thảm họa và nhu cầu về thuốc;
c) Thuốc thành phẩm chưa có số đăng ký nhập khẩu theo nhu cầu điều trị đặc biệt của bệnh viện được phép nhập khẩu với số lượng căn cứ vào dự trù của bệnh viện và chỉ được sử dụng cho các bệnh nhân nội trú, ngoại trú của bệnh viện theo chỉ định của bác sĩ, không được bán ra ngoài thị trường;
d) Thuốc thành phẩm chưa có số đăng ký nhập khẩu để phục vụ cho các chương trình mục tiêu y tế quốc gia được phép nhập khẩu căn cứ vào các tài liệu pháp lý liên quan đến việc nhập khẩu thuốc của chương trình và dự án y tế quốc gia. Thuốc của chương trình, dự án y tế quốc gia phải được nhập khẩu ủy thác qua các doanh nghiệp đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 4 Quy định này. Trên nhãn thuốc phải có dòng chữ "Thuốc chương trình y tế quốc gia" hoặc "Thuốc dự án y tế quốc gia".
Điều 8. Đối với thuốc thành phẩm chưa có số đăng ký quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 Quy định này
1. Thuốc viện trợ, viện trợ nhân đạo là các thuốc do các tổ chức từ thiện, tổ chức phi Chính phủ, cá nhân người nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài (gọi tắt là bên nước ngoài) gửi tặng, viện trợ cho các địa phương, các Bộ, ngành, các cơ sở điều trị, các tổ chức của Việt Nam (gọi tắt là đơn vị nhận viện trợ) dưới hình thức quà tặng, viện trợ nhân đạo, viện trợ khẩn cấp không thu tiền nhằm phục vụ cho công tác phòng và điều trị bệnh.
2. Thuốc viện trợ, viện trợ nhân đạo phải đảm bảo các yêu cầu sau:
a) Phải được phép lưu hành tại nước sở tại. Đối với vắc xin, sinh phẩm y tế phải thuộc danh mục vắc xin, sinh phẩm y tế đã được Tổ chức Y tế khuyến cáo sử dụng;
b) Phải đáp ứng đúng những yêu cầu sử dụng thực tế của đơn vị nhận viện trợ và Chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam;
c) Không thuộc danh mục thuốc gây nghiện, danh mục thuốc cấm nhập khẩu vào Việt Nam;
d) Phải có nguồn gốc rõ ràng và bảo đảm các tiêu chuẩn về chất lượng, an toàn, hiệu quả sử dụng ở cả nước viện trợ và Việt Nam. Vắc xin, sinh phẩm y tế viện trợ phải có phiếu kiểm nghiệm đạt tiêu chuẩn chất lượng của cơ quan kiểm định quốc gia nước sở tại hoặc cơ quan có thẩm quyền đối với lô hàng nhập, đồng thời phải được Viện Kiểm định quốc gia vắc xin và sinh phẩm y tế đánh giá chất lượng trước khi nhập khẩu;
đ) Phải được đóng gói trong đồ bao gói thích hợp, có ghi rõ: tên thuốc, hoạt chất, hàm lượng, dạng bào chế, quy cách đóng gói, kèm theo hướng dẫn sử dụng thuốc và có danh mục chi tiết đi kèm theo từng đơn vị đóng gói;
e) Hạn dùng của thuốc
Đối với thuốc viện trợ, viện trợ nhân đạo có hạn dùng lớn hơn hoặc bằng 02 năm, hạn dùng còn lại của thuốc phải còn tối thiểu 01 năm tính từ ngày về đến cảng Việt Nam. Trong trường hợp thuốc có hạn dùng dưới 02 năm thì hạn dùng còn lại của thuốc phải còn ít nhất 1/3 hạn dùng của thuốc tính từ ngày về đến cảng Việt Nam.
3. Trường hợp đặc biệt, thuốc viện trợ phục vụ cho các chương trình nghiên cứu không đáp ứng quy định tại khoản 2 Điều này, có thể xem xét cho phép tiếp nhận căn cứ các tài liệu pháp lý, kỹ thuật liên quan của chương trình nghiên cứu.
1. Thuốc nhập khẩu để tiến hành thử nghiệm lâm sàng phải thực hiện theo quy định của Bộ Y tế về thử thuốc trên lâm sàng, số lượng nhập khẩu phải phù hợp với đề cương nghiên cứu thử thuốc trên lâm sàng đã được Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt và chỉ được sử dụng đúng theo đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt.
2. Thuốc nhập khẩu với mục đích làm mẫu để đăng ký lưu hành tại Việt Nam mỗi loại được nhập khẩu không quá 05 đơn vị đóng gói phù hợp với mẫu dự định đưa ra lưu hành.
3. Thuốc nhập khẩu để tham gia trưng bày triển lãm, hội chợ phải thực hiện các quy định sau:
a) Phải được cấp giấy phép lưu hành tại nước xuất khẩu;
b) Chỉ được sử dụng với mục đích tham gia trưng bày triển lãm, hội chợ; không được sử dụng với bất kỳ mục đích nào khác;
c) Phải thực hiện tạm nhập, tái xuất theo đúng quy định của Luật Thương mại và sau khi tái xuất phải có văn bản báo cáo Bộ Y tế về số lượng và tình hình tái xuất.
4. Thuốc nhập khẩu phục vụ công tác nghiên cứu, kiểm nghiệm chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, kiểm nghiệm với số lượng phù hợp với mục đích nghiên cứu, kiểm nghiệm.
QUY ĐỊNH CỤ THỂ VỀ NHẬP KHẨU NGUYÊN LIỆU LÀM THUỐC CHƯA CÓ SỐ ĐĂNG KÝ
Điều 10. Đối với nguyên liệu làm thuốc chưa có số đăng ký
1. Nguyên liệu làm thuốc chưa có số đăng ký được phép nhập khẩu vào Việt Nam bao gồm:
a) Nguyên liệu làm thuốc chưa có số đăng ký phục vụ nhu cầu sản xuất của các cơ sở sản xuất thuốc;
b) Nguyên liệu làm thuốc chưa có số đăng ký phục vụ công tác nghiên cứu, kiểm nghiệm chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, kiểm nghiệm với số lượng phù hợp với mục đích nghiên cứu, kiểm nghiệm;
c) Nguyên liệu làm thuốc chưa có số đăng ký nhập khẩu với mục đích để đăng ký lưu hành tại Việt Nam, mỗi loại được nhập khẩu với khối lượng đủ cho yêu cầu kiểm nghiệm.
2. Nguyên liệu làm thuốc nhập khẩu phải có tiêu chuẩn chất lượng và phải bảo đảm chất lượng theo đúng tiêu chuẩn đã ghi trên đơn hàng nhập khẩu.
3. Đối với các nguyên liệu thuốc gây nghiện, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc chưa có số đăng ký phải thực hiện theo các quy định tại Quy định này, các quy chế chuyên môn của Bộ Y tế và các quy định khác của pháp luật liên quan.
Các giấy phép nhập khẩu thuốc chưa có số đăng ký đã được cấp trước ngày Quy định này có hiệu lực được tiếp tục thực hiện đến hết thời hạn hiệu lực của giấy phép.
Bộ trưởng Bộ Y tế chịu trách nhiệm quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp Giấy phép nhập khẩu thuốc chưa có số đăng ký; số lượng thuốc được phép nhập khẩu đối với từng trường hợp cụ thể; tiếp nhận, quản lý, sử dụng thuốc viện trợ, viện trợ nhân đạo của nước ngoài vào Việt Nam./.
- 1Decision No. 42/2013/QD-TTg of July 15, 2013, providing the management of drugs for human use which are imported and exported through non-commercial channel, and amending and supplementing a number of articles of the Regulation on import of drugs without registration numbers in Vietnam promulgated together with the Prime Minister’s Decision No. 151/2007/QD-TTg of September 12, 2007
- 2Decision No. 42/2013/QD-TTg of July 15, 2013, providing the management of drugs for human use which are imported and exported through non-commercial channel, and amending and supplementing a number of articles of the Regulation on import of drugs without registration numbers in Vietnam promulgated together with the Prime Minister’s Decision No. 151/2007/QD-TTg of September 12, 2007
- 1Decree No. 89/2006/ND-CP of August 30, 2006, re goods label.
- 2Law No. 34/2005/QH11 of June 14, 2005, on pharmacy
- 3Decision No. 71/2002/QD-TTg of June 07, 2002, on the management of curative medicines for human use, imported and/or exported through non-commercial channel
- 4Law No.23/2000/QH10 of December 09, 2000 on drug prevention and fight
Decision No. 151/2007/QD-TTg of September 12, 2007, promulgating the regulation on the import of drugs without registration number in Vietnam.
- Số hiệu: 151/2007/QD-TTg
- Loại văn bản: Quyết định
- Ngày ban hành: 12/09/2007
- Nơi ban hành: Thủ tướng Chính phủ
- Người ký: Nguyễn Tấn Dũng
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/10/2007
- Ngày hết hiệu lực: 20/09/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
