Công văn về việc xác định thời hạn xử lý hành vi khai man, trốn thuế được ban hành nhằm hướng dẫn các cơ quan thuế địa phương thống nhất phương pháp xác định thời hạn xử phạt vi phạm hành chính và thời hạn truy thu thuế đối với các hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan thuế các cấp, công chức thuế thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, và các tổ chức, cá nhân nộp thuế có hành vi khai man, trốn thuế, gian lận thuế nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Thời hạn xử phạt vi phạm hành chính về thuế
- Thời hạn xử phạt đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, miễn, giảm là 05 năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.
- Thời điểm xác định ngày thực hiện hành vi vi phạm đối với hành vi khai sai, khai man là ngày tiếp theo ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ tính thuế đó, hoặc ngày cơ quan thuế có thẩm quyền ra quyết định hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế.
- Đối với hành vi không nộp hồ sơ khai thuế nhưng có phát sinh số tiền thuế phải nộp, thời điểm tính thời hạn xử phạt là ngày cơ quan thuế phát hiện hành vi vi phạm.
Quy định về thời hạn truy thu thuế
- Trường hợp đã quá thời hạn xử phạt vi phạm hành chính về thuế (05 năm) thì người nộp thuế không bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng vẫn bị truy thu đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, tiền thuế gian lận và tính tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn 10 năm trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.
- Đối với trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì cơ quan thuế thực hiện truy thu đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, tiền thuế gian lận và tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trước đó, không áp dụng giới hạn thời hạn 10 năm.
Biện pháp khắc phục hậu quả và xử lý vi phạm
- Cơ quan thuế có thẩm quyền buộc người nộp thuế phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, tiền thuế trốn, tiền thuế gian lận vào tài khoản thu ngân sách nhà nước.
- Buộc nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế thiếu, tiền thuế trốn, tiền thuế gian lận theo mức tỷ lệ phần trăm quy định tại Luật Quản lý thuế đối với khoảng thời gian chậm nộp.
- Trường hợp qua thanh tra, kiểm tra thuế phát hiện hành vi khai man, trốn thuế có dấu hiệu tội phạm, cơ quan thuế phải chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều tra có thẩm quyền để khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Hiệu lực thi hành
Công văn này có hiệu lực hướng dẫn áp dụng kể từ ngày ký ban hành. Các hướng dẫn trước đây của cơ quan thuế có nội dung trái với hướng dẫn tại công văn này đều bãi bỏ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4324/TCT/CS | Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2001 |
CÔNG VĂN
CỦA TỔNG CỤC THUẾ SỐ 4324 TCT/CS NGÀY 29 THÁNG 10 NĂM 2001 VỀ VIỆC XÁC ĐỊNH THỜI HẠN XỬ LÝ HÀNH VI KHAI MAN, TRỐN THUẾ
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Cà Mau
Trả lời Công văn số 470/CT-NV ngày 13/8/2001 của Cục thuế tỉnh Cà Mau hỏi về xác định thời hạn xử lý hành vi khai man, trốn thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Thông tư số 30/2001/TT-BTC ngày 16/5/2001 của Bộ Tài chính đã hướng dẫn: "Thời điểm để xác định hành vi khai man, trốn thuế là thời điểm hành vi vi phạm bị phát hiện, phù hợp với phương thức, thời hạn phải kê khai, phải nộp thuế, phải quyết toán thuế theo quy định của các Luật thuế, Pháp lệnh thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện, cụ thể như sau:
+ Đối với các trường hợp pháp luật quy định chế độ kê khai, tạm nộp hàng tháng, quyết toán theo năm: được xác định là khai man, trốn thuế nếu hành vi vi phạm bị phát hiện sau ngày phải nộp quyết toán thuế hàng năm.
+ Đối với các trường hợp pháp luật quy định kê khai nộp thuế một lần theo thông báo của cơ quan thu thuế: được xác định là khai man, trốn thuế nếu hành vi vi phạm bị phát hiện sau ngày phải nộp đủ tiền thuế ghi trên thông báo của cơ quan thu thuế ".
Căn cứ hướng dẫn trên, đối với hành vi vi phạm Luật thuế GTGT được xác định là khai man trốn thuế cần có sự phân biệt như sau:
- Hành vi chậm kê khai thuế đầu ra do kê khai sót hoá đơn, chứng từ hoặc phân bổ thuế đầu được khấu trừ chưa đúng chế độ thì không coi là hành vi khai man trốn thuế.
- Các hành vi cố tình gian lận thuế như dùng hoá đơn không hợp pháp hoặc kê khai khống thuế đầu vào không có chứng từ để được khấu trừ thuế hoặc hoàn thuế không đúng quy định thì phải xác định là hành vi khai man trốn thuế ngay tại thời điểm phát hiện hành vi vi phạm.
Những văn bản trước đây của Tổng cục Thuế hướng dẫn về thời điểm xác định hành vi khai man, trốn thuế GTGT không phù hợp với nội dung hướng dẫn trên đều không còn giá trị thi hành.
2. Kiến nghị của Cục thuế về phương pháp ấn định thuế đối với các cơ sở kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khấu trừ, Tổng cục Thuế xin ghi nhận để nghiên cứu.
Tổng cục Thuế thông báo để Cục Thuế biết và thực hiện.
|
| Phạm Văn Huyến (Đã ký)
|
- 1Công văn số 1437TCT/PCCS của Tổng cục Thuế về việc thời hạn truy thu thuế đối với hành vi trốn thuế
- 2Công văn số 2688/TCT-PCCS của Tổng Cục Thuế về việc chính sách thuế
- 3Thông tư 30/2001/TT-BTC sửa đổi Thông tư 128/1998/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 22/CP 1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế do Bộ Tài Chính ban hành
- 4Công văn 7127/TC/TCT của Bộ Tài chính về việc quản lý giá xi măng
Công văn về việc xác định thời hạn xử lý hành vi khai man, trốn thuế
- Số hiệu: 4324/TCT/CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 29/10/2001
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Văn Huyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 29/10/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
