Công văn về việc tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị (chưa rõ số hiệu, cơ quan và ngày ban hành) là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật trong việc xác định thời hạn thực hiện quyền kháng cáo của đương sự, bị cáo và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án.
Phạm vi và đối tượng áp dụng của văn bản
Văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các hoạt động tố tụng dân sự, tố tụng hình sự và tố tụng hành chính tại Tòa án nhân dân các cấp. Đối tượng chịu sự tác động trực tiếp bao gồm Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan), bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cùng các cơ quan, tổ chức có liên quan đến quá trình giải quyết vụ án.
Các nội dung hướng dẫn cốt lõi về tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Nội dung hướng dẫn tập trung giải quyết các vướng mắc thực tế trong việc xác định thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và cách thức tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị cụ thể như sau:
- Xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm:
- Đối với đương sự, bị cáo có mặt tại phiên tòa sơ thẩm: Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, được tính bắt đầu từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án.
- Đối với đương sự, bị cáo vắng mặt tại phiên tòa: Thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính bắt đầu từ ngày tiếp theo của ngày bản án được giao nhận hợp lệ hoặc ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật tố tụng.
- Trường hợp đương sự cư trú hoặc có trụ sở ở nước ngoài: Thời hạn kháng cáo được thực hiện theo các quy định đặc thù về tố tụng có yếu tố nước ngoài, tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc từ ngày thực hiện xong việc tống đạt theo phương thức ủy thác tư pháp.
- Phương thức tính thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát:
- Đối với Viện kiểm sát cùng cấp: Thời hạn kháng nghị được tính bắt đầu từ ngày tiếp theo của ngày Tòa án tuyên án.
- Đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp: Thời hạn kháng nghị được tính bắt đầu từ ngày tiếp theo của ngày Viện kiểm sát nhận được bản án sơ thẩm do Tòa án chuyển giao.
- Xác định ngày thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị trong các trường hợp đặc thù:
- Gửi qua dịch vụ bưu chính: Ngày kháng cáo, kháng nghị được xác định căn cứ vào ngày có dấu của bưu điện nơi gửi. Trường hợp không xác định được ngày có dấu bưu điện thì tính từ ngày Tòa án nhận được đơn hoặc quyết định kháng nghị.
- Nộp trực tiếp tại Tòa án: Ngày kháng cáo, kháng nghị là ngày đương sự nộp đơn hoặc Viện kiểm sát bàn giao quyết định kháng nghị trực tiếp cho bộ phận tiếp nhận của Tòa án.
- Đối với người đang bị tạm giam, tạm giữ: Ngày kháng cáo được tính từ ngày người đó nộp đơn kháng cáo cho Ban quản lý trại tạm giam, nhà tạm giữ. Ban quản lý có trách nhiệm xác nhận và chuyển đơn đến Tòa án có thẩm quyền theo đúng thời hạn luật định.
- Quy tắc xử lý khi ngày cuối cùng của thời hạn trùng vào ngày nghỉ:
- Trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo, kháng nghị trùng vào ngày nghỉ cuối tuần (thứ Bảy, Chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ, tết theo quy định của Nhà nước thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị được kéo dài và kết thúc vào ngày làm việc đầu tiên tiếp theo của ngày nghỉ đó.
- Xem xét kháng cáo quá hạn:
- Trường hợp đơn kháng cáo được nộp sau khi hết thời hạn quy định (kháng cáo quá hạn), Tòa án cấp sơ thẩm phải yêu cầu người kháng cáo trình bày rõ lý do bằng văn bản và cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lý do quá hạn (nếu có).
- Hội đồng xét đơn kháng cáo quá hạn của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ xem xét, đánh giá tính khách quan, hợp pháp của lý do quá hạn (như thiên tai, dịch bệnh, ốm đau tai nạn phải điều trị nội viện...) để quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn.
Hiệu lực thi hành và lưu ý áp dụng
Do văn bản chưa xác định rõ ngày ban hành và tình trạng hiệu lực cụ thể, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và các đương sự cần chủ động đối chiếu các nội dung hướng dẫn nêu trên với các quy định hiện hành tại Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tố tụng hành chính để bảo đảm tính chính xác, thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật thực tế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 166/2001/KHXX | Hà Nội, ngày 14 tháng 12 năm 2001 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 166/2001/KHXX NGÀY 14 THÁNG 12 NĂM 2001 VỀ VIỆC TÍNH THỜI HẠN KHÁNG CÁO, KHÁNG NGHỊ
| Kính gửi: | - Các Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp |
Trong thời gian qua Toà án nhân dân tối cao nhận được công văn của một số Toà án nhân dân địa phương đề nghị hướng dẫn việc tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với bản án, quyết định về hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính theo thủ tục phúc thẩm và kháng nghị các bản án, quyết định đó đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm. Sau khi trao đổi ý kiến và có sự thống nhất của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Công văn số 3263/KSXXHS ngày 11 tháng 12 năm 2001, Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau:
Theo quy định của các văn bản pháp luật tố tụng (Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh giải quyết các tranh chấp lao động và Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính) thì:
- Thời hạn kháng cáo đối với các bản án, quyết định hình sự, dân sự, kinh tế, lao động và hành chính theo thủ tục phúc thẩm là , kể từ ngày Tòa án tuyên án hoặc ra quyết định; nếu bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo này tính từ ngày bản sao bản án, quyết định được giao cho họ, thân nhân của họ hoặc được niêm yết công khai.
- Thời hạn kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là , của Viện kiểm sát cấp trên là , kể từ ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định; nếu kiểm sát viên không tham gia phiên toà (đối với vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính) thì thời hạn kháng nghị này được tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định của Toà án.
- Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về hình sự, dân sự, lao động, kinh tế, hành chính là , kể từ ngày các bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật.
Do trong các văn bản pháp luật tố tụng không quy định cụ thể việc xác định thời điểm bắt đầu thời hạn kháng cáo, kháng nghị và thời điểm kết thúc thời hạn đó; cho nên việc tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị trong thời gian qua chưa được thống nhất. Để bảo đảm thống nhất việc tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị, từ nay trở đi việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị và thời điểm kết thúc thời hạn đó được thực hiện theo quy định tại Điều 161 và 162 Bộ luật dân sự; cụ thể là:
1. Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày được xác định. Tuỳ từng trường hợp cụ thể mà ngày được xác định như sau:
a. Ngày được xác định là ngày Toà án tuyên án hoặc ra quyết định trong trường hợp bị cáo, đương sự có mặt tại phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên có tham gia phiên toà sơ thẩm.
Ví dụ: Ngày 01/10/2001 Toà án xét xử sơ thẩm vụ án hình sự có mặt bị cáo B và cùng ngày tuyên án đối với bị cáo B. Trong trường hợp này ngày được xác định là ngày 01/10/2001 và thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo 15 ngày (đối với bị cáo B) thời hạn kháng nghị 15 ngày (đối với Viện kiểm sát cùng cấp), 30 ngày (đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp) là ngày 2/10/2001.
b. Ngày được xác định là ngày bản sao bản án, quyết định được giao cho họ hoặc được niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của họ trong trường hợp bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên toà sơ thẩm.
Ví dụ: Ngày 4/10/2001 Toà án xét xử sơ thẩm vụ án dân sự vắng mặt đương sự A và cùng ngày tuyên án. Ngày 18/10/2001 Toà án mới giao bản sao bản án cho đương sự A hoặc niêm yết tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã nơi đương sự A cư trú. Trong trường hợp này ngày được xác định là ngày 18/10/2001 và thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo 15 ngày (đối với đương sự A) là ngày 19/10/2001.
c. Ngày được xác định là ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án, quyết định của Toà án trong trường hợp kiểm sát viên không tham gia phiên toà sơ thẩm (đối với vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính).
Ví dụ: Ngày 4/9/2001 Toà án xét xử sơ thẩm vụ án kinh tế không có sự tham gia của kiểm sát viên và cùng ngày tuyên án. Ngày 10/9/2001 Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản sao bản án của Toà án. Trong trường hợp này ngày được xác định là ngày 10/9/2001 và thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị 10 ngày (đối với Viện kiểm sát cùng cấp), 20 ngày (đối với Viện kiểm sát cấp trên) là ngày 11/9/2001.
d. Ngày được xác định là ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật.
Ví dụ: Ngày 3/10/2001 Toà án xét xử phúc thẩm vụ án lao động và cùng ngày tuyên án. Trong trường hợp này ngày được xác định là ngày 3/10/2001 và thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm 6 tháng (hoặc 1 năm nếu kháng nghị có lợi cho người lao động) là ngày 4/10/2001.
2. Thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị
Theo quy định của các văn bản pháp luật tố tụng thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm tính theo ngày; thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm tính theo tháng (đối với bản án, quyết định kinh tế, lao động, hành chính) hoặc theo năm (đối với bản án, quyết định hình sự, dân sự hoặc lao động, nếu việc kháng nghị có lợi cho người lao động); Do đó, việc kết thúc các thời hạn nói trên phải căn cứ vào quy định tại Điều 162 Bộ luật dân sự. Tuy nhiên, theo Quyết định số 188/1999/QĐ-TTg ngày 17/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ "Về việc thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ" thì kể từ ngày 2/10/1999, chế độ tuần làm việc 40 giờ trong 5 ngày, nghỉ ngày thứ bẩy và Chủ nhật hàng tuần, đối với cán bộ, công chức và người lao động trong các cơ quan, đơn vị hành chính, sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; Do đó, khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày thứ bảy, ngày Chủ nhật hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào đúng 12 giờ đêm của ngày đó.
Ví dụ 1: Trong ví dụ tại điểm a mục 1 trên đây, thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày 2/10/2001. Theo quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 162 Bộ luật dân sự thì thời hạn kháng cáo 15 ngày (đối với bị cáo B) kết thúc vào 12 giờ đêm ngày 16/10/2001. Giả sử ngày 16/10/2001 đúng vào ngày Chủ nhật thì theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 162 Bộ luật dân sự thời hạn kháng cáo 15 ngày (đối với bị cáo B) kết thúc vào 12 giờ đêm ngày 17/10/2001 (nếu không đúng vào ngày nghỉ lễ).
Ví dụ 2: Trong ví dụ nêu tại điểm b mục 1 trên đây thì thời hạn kháng cáo 15 ngày tính từ ngày 19/10/2001. Theo quy định tại khoản 1 và khoản 6 Điều 162 Bộ luật dân sự thì thời hạn kháng cáo 15 ngày (đối với đương sự A) kết thúc vào 12 giờ đêm ngày 2/11/2001. Giả sử ngày 2/11/2001 đúng vào ngày nghỉ lễ thì theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 162 Bộ luật dân sự, quyết định số 188/1999/QĐ-TTg ngày 17/9/1999 của Thủ tướng Chính phủ "Về việc thực hiện chế độ tuần làm việc 40 giờ" thời hạn kháng cáo 15 ngày kết thúc vào 12 giờ đêm ngày 3/11/2001 (nếu không đúng vào ngày thứ bảy, Chủ nhật); nếu ngày 3/11/2001 đúng vào ngày thứ bảy, thì thời hạn kháng cáo 15 ngày kết thúc vào 12 giờ đêm ngày 5/11/2001.
Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc hoặc cần hướng dẫn bổ sung, đề nghị phản ánh kịp thời cho Toà án nhân dân tối cao để có giải thích hoặc hướng dẫn bổ sung cho phù hợp.
|
| Đặng Quang Phương (Đã ký)
|
Công văn về việc tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị
- Số hiệu: 166/2001/KHXX
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 14/12/2001
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký: Đặng Quang Phương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 14/12/2001
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
