Công văn hướng dẫn áp dụng Điều 181 Bộ luật Hình sự (BLHS) được ban hành nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong thực tiễn xét xử, thống nhất nhận thức và áp dụng pháp luật đối với tội cưỡng bức lao động. Văn bản này cung cấp các tiêu chí định lượng và định tính quan trọng giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định chính xác hành vi phạm tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra các cấp, cùng các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự liên quan đến hành vi cưỡng bức lao động trên phạm vi cả nước.
Các nội dung hướng dẫn cốt lõi về áp dụng Điều 181 Bộ luật Hình sự
1. Xác định các dấu hiệu pháp lý của tội cưỡng bức lao động
- Hành vi khách quan: Hướng dẫn làm rõ các hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác nhằm ép buộc người khác phải lao động trái ý muốn của họ. Trong đó, "thủ đoạn khác" có thể bao gồm việc giữ giấy tờ tùy thân, khống chế về tài chính, cô lập thông tin hoặc lợi dụng tình trạng lệ thuộc của nạn nhân.
- Ý thức chủ quan: Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi của mình là ép buộc người khác lao động trái ý muốn nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra nhằm mục đích trục lợi hoặc các mục đích cá nhân khác.
- Khách thể bị xâm hại: Quyền tự do lao động, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm và sức khỏe của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ.
2. Hướng dẫn chi tiết về các tình tiết định khung hình phạt
- Cưỡng bức lao động đối với đối tượng đặc thù: Hướng dẫn việc xác định hành vi phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người khuyết tật phải dựa trên các tài liệu, chứng cứ khách quan hoặc kết luận giám định chuyên môn để áp dụng khung hình phạt tăng nặng phù hợp.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: Hướng dẫn cách tính tỷ lệ tổn thương cơ thể để áp dụng khung hình phạt tăng nặng tương ứng theo quy định tại các điểm, khoản của Điều 181.
- Phạm tội đối với 02 người trở lên: Xác định rõ trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi cưỡng bức lao động đối với từ hai nạn nhân trở lên trong cùng một khoảng thời gian hoặc bằng cùng một phương thức, thủ đoạn.
3. Phân biệt tội cưỡng bức lao động với các tội danh liên quan
- Phân biệt với Tội mua bán người (Điều 150) và Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151): Công văn nhấn mạnh việc phân biệt dựa trên hành vi chuyển giao, tiếp nhận nạn nhân nhằm mục đích bóc lột tình dục, cưỡng bức lao động hoặc lấy bộ phận cơ thể. Nếu có hành vi mua bán, chuyển giao nạn nhân trước khi thực hiện việc cưỡng bức lao động thì phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán người.
- Phân biệt với các vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động: Cần làm rõ ranh giới giữa hành vi cưỡng bức lao động cấu thành tội phạm hình sự với các hành vi vi phạm quy định về sử dụng lao động, tranh chấp hợp đồng lao động thông thường chỉ bị xử lý hành chính hoặc dân sự.
4. Hướng dẫn về công tác phối hợp liên ngành và xử lý vụ án
- Các cơ quan tiến hành tố tụng cần phối hợp chặt chẽ trong việc thu thập chứng cứ, đặc biệt là các chứng cứ chứng minh yếu tố "trái ý muốn" của người lao động và các thủ đoạn tinh vi của người sử dụng lao động.
- Ưu tiên bảo vệ quyền lợi của nạn nhân, hỗ trợ giải cứu, bảo đảm an toàn và thực hiện các biện pháp trợ giúp pháp lý cần thiết trong quá trình giải quyết vụ án.
Hiệu lực thi hành
Công văn hướng dẫn này có hiệu lực áp dụng kể từ ngày ban hành, được phổ biến đến các thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên để thống nhất thực hiện trong công tác xét xử và giải quyết các vụ án hình sự liên quan.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 53/1999/KHXX | Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 1999 |
CÔNG VĂN
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 53/1999/KHXX NGÀY 25 THÁNG 6 NĂM 1999 VỀ VIỆC HƯỚNG DẪN ÁP DỤNG ĐIỀU 181 BỘ LUẬT HÌNH SỰ
Kính gửi: Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước
Sau khi nghiên cứu Công văn số 40/CV-TA ngày 30-3-1999 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước đề nghị hướng dẫn áp dụng Điều 181 Bộ luật Hình sự, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
1. Tại Điều 3 Nghị định số 77/CP ngày 29-11-1996 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, đã quy định rõ đối với các hành vi vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng mà mức độ gây thiệt hại vượt qua mức độ tối đa thuộc phại vi xử phạt vi phạm hành chính đối với mỗi hành vi được quy định tại Nghị định này thì phải chuyển sang truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần áp dụng các quy định của Nghị định số 77/CP để xác định tình tiết "gây hậu quả nghiêm trọng" được quy định tại Điều 181 Bộ luật Hình sự. Cụ thể là đối với hành vi phá rừng trái phép, hành vi khai thác rừng trái phép và hành vi phát đốt rừng trái phép để làm nương dẫy (quy định tại Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định 77/CP), nếu gây thiệt hại với một trong các mức sau đây phải truy cứu trách nhiệm hình sự:
- Phá rừng, phát đốt rừng sản xuất từ trên 1 ha;
- Phá rừng, phát đốt rừng phòng hộ từ trên 0,5 ha;
- Phá rừng, phát đốt rừng đặc dụng từ trên 0,3 ha.
- Khai thác trái phép gỗ tròn thông thường: ở rừng sản xuất từ trên 25m3; ở rừng phòng hộ từ trên 20m3; ở rừng đặc dụng từ trên 15m3;
- Đối với gỗ tròn quý hiếm thì cần lưu ý như sau: Theo quy định tại Điều 3 Nghị định số 18-HĐBT ngày 17-1-1992 quy định danh mục thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm và chế độ quản lý, bảo vệ, thì: Nhà nước nghiêm cấm việc khai thác, sử dụng thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm thuộc nhóm I. Hạn chế việc khai thác, sử dụng thực vật rừng, động vật rừng quý, hiếm thuộc nhóm II. Vì vậy, tại dự thảo Thông tư liên tịch của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an hướng dẫn xử lý các hành vi phạm tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng (về cơ bản dự thảo Thông tư này đã được chuyên viên các ngành liên quan nhất trí, tuy nhiên chưa trình lên lãnh đạo xem xét ký, ban hành là do cần chờ kết quả của Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá X thông qua Bộ luật Hình sự sửa đổi) thì:
- Khai thác trái phép gỗ tròn quý hiếm từ trên 1m3 thuộc nhóm I, hoặc từ trên 10 m3 thuộc nhóm II thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 181 Bộ luật Hình sự.
2. Cũng theo dự thảo Thông tư liên tịch nói trên thì các hành vi phá rừng trái phép, phát đốt rừng trái phép làm nương rẫy, khai thác gỗ tròn quý hiếm, nếu gây thiệt hại với một trong các mức sau đây thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 2 Điều 181 Bộ luật Hình sự:
- Phá rừng, phát đốt rừng sản xuất từ trên 1,5ha
- Phá rừng, phát đốt rừng phòng hộ từ trên 0,7ha
- Phá rừng, phát đốt rừng đặc dụng từ trên 0,5ha
- Khai thác gỗ tròn thông thường: từ trên 35 m3 ở rừng sản xuất, từ trên 28 m3 ở rừng phòng hộ, từ trên 20 m3 ở rừng đặc dụng.
- Khai thác gỗ tròn quý hiếm từ trên 3 m3 thuộc nhóm I, từ trên 15 m3 thuộc nhóm II.
Vì dự thảo Thông tư liên tịch chưa được chính thức thông qua, vì vậy hướng dẫn về việc xác định các mức thiệt hại làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự theo Khoản 1 Điều 181 Bộ luật Hình sự đối với hành vi khai thác gỗ tròn quý, hiếm thuộc nhóm I và làm căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm theo Khoản 2 Điều 181 Bộ luật Hình sự, chưa phải là hướng dẫn chính thức. Do đó, ý kiến trên đây của Toà án nhân dân tối cao chỉ để quý Toà tham khảo trong việc áp dụng Điều 181 Bộ luật Hình sự.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |
Công văn về việc hướng dẫn áp dụng Điều 181 BLHS
- Số hiệu: 53/1999/KHXX
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 05/06/1999
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký: Trịnh Hồng Dương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 05/06/1999
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
