Công văn về việc giải quyết các vụ án ly hôn với một bên đương sự đang ở nước ngoài là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng của cơ quan tòa án cấp cao nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong quá trình giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Văn bản tập trung hướng dẫn các Tòa án nhân dân địa phương về trình tự, thủ tục thụ lý, thực hiện ủy thác tư pháp và xét xử đối với các trường hợp một bên đương sự (nguyên đơn hoặc bị đơn) đang cư trú, học tập hoặc làm việc tại nước ngoài.
Phạm vi áp dụng của văn bản bao gồm toàn bộ quá trình tố tụng giải quyết vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại hệ thống Tòa án nhân dân các cấp. Đối tượng áp dụng trực tiếp là Thẩm phán, Thư ký Tòa án, các đương sự trong vụ án ly hôn và các cơ quan, tổ chức có liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp hình sự và dân sự.
Xác định thẩm quyền và thụ lý vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài
- Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các vụ án ly hôn có đương sự ở nước ngoài hoặc có tài sản ở nước ngoài, trừ các trường hợp đặc biệt thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Khi thụ lý đơn khởi kiện, Tòa án phải yêu cầu người khởi kiện cung cấp đầy đủ, chính xác địa chỉ của đương sự đang ở nước ngoài. Trường hợp không rõ địa chỉ, Tòa án phải hướng dẫn đương sự thực hiện các bước xác minh thông qua người thân hoặc cơ quan quản lý xuất nhập cảnh.
Thủ tục ủy thác tư pháp và tống đạt văn bản tố tụng ra nước ngoài
- Tòa án thực hiện việc tống đạt giấy triệu tập, thông báo và các văn bản tố tụng khác cho đương sự ở nước ngoài thông qua con đường ủy thác tư pháp theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp và các Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam là thành viên.
- Hồ sơ ủy thác tư pháp phải được lập bằng văn bản, dịch thuật và công chứng hợp pháp sang ngôn ngữ của nước tiếp nhận hoặc ngôn ngữ chung được thừa nhận rộng rãi.
- Trường hợp đã thực hiện đầy đủ các thủ tục ủy thác tư pháp hợp lệ nhưng không nhận được kết quả phản hồi từ cơ quan có thẩm quyền nước ngoài sau khi hết thời hạn luật định, Tòa án được phép tiến hành các bước tố tụng tiếp theo để giải quyết vụ án nhằm bảo đảm quyền lợi cho đương sự trong nước.
Giải quyết trường hợp đương sự cố tình giấu địa chỉ hoặc không rõ địa chỉ
- Nếu người khởi kiện chỉ cung cấp được địa chỉ cư trú cuối cùng của bị đơn trước khi xuất cảnh, Tòa án yêu cầu thân nhân của bị đơn (bố, mẹ, con...) cung cấp địa chỉ hiện tại của bị đơn ở nước ngoài.
- Trường hợp thân nhân cố tình che giấu hoặc không cung cấp địa chỉ, hoặc bị đơn cố tình không liên lạc để trốn tránh nghĩa vụ, Tòa án sẽ thực hiện thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng (niêm yết công khai tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng và Cổng thông tin điện tử của Tòa án).
- Sau khi hết thời hạn thông báo theo quy định mà đương sự vẫn không có phản hồi, Tòa án sẽ tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung để bảo vệ quyền tự do hôn nhân của nguyên đơn.
Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em khi xét xử vắng mặt
- Khi xét xử vắng mặt đương sự đang ở nước ngoài, Tòa án phải xem xét toàn diện các chứng cứ liên quan đến quan hệ hôn nhân thực tế, quyền nuôi dưỡng con chưa thành niên, mức cấp dưỡng và việc phân chia tài sản chung.
- Việc giao quyền nuôi con phải ưu tiên bảo đảm điều kiện phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần của trẻ. Đối với tài sản chung là bất động sản tại Việt Nam, Tòa án giải quyết phân chia theo quy định của pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm tính khả thi khi thi hành án.
Văn bản hướng dẫn này có hiệu lực áp dụng thống nhất trong hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án nhân dân, là cơ sở pháp lý quan trọng giúp giải quyết dứt điểm các vụ án ly hôn có yếu tố nước ngoài bị kéo dài do rào cản về khoảng cách địa lý và thủ tục tống đạt giấy tờ tố tụng.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 29/NCPL | Hà Nội, ngày 06 tháng 4 năm 1992 |
CỦA TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO SỐ 29/NCPL NGÀY 6 THÁNG 4 NĂM 1992 VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN LY HÔN VỚI MỘT BÊN ĐƯƠNG SỰ ĐANG Ở NƯỚC NGOÀI
Kính gửi: Toà án nhân dân thành phố Hà Nội
Sau khi nghiên cứu Công văn số 42/DS-TA ngày 12-3-1992, Toà án nhân dân tối cao có ý kiến như sau:
1. Đối với các trường hợp cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài (Đại sứ quán hoặc lãnh sự quán) được uỷ thác đã có giấy triệu tập dương sự để lấy lời khai, nhưng đương sự không đến để khai báo thì tuỳ trường hợp cụ thể mà giải quyết như sau:
- Nếu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài cho biết là đương sự đã nhận được giấy triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vẫn cố tình không đến để khai báo, cung cấp những tài liệu cần thiết, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
- Nếu đương sự không có địa chỉ rõ ràng sống lưu vong, không ai quản lý, cho nên cơ quan ngoại giao của nước ta không thể liên hệ với họ được, thì Toà án yêu cầu thân nhân của đương sự đang ở nước ngoài gửi cho họ lời khai của đương sự trong nước và báo cho đương sự đang ở nước ngoài gửi về Toà án những lời khai hoặc các tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Sau khi có kết quả, Toà án có thể căn cứ vào những lời khai và tài liệu đó để xét xử, nếu đương sự ở trong nước công nhận những lời khai hoặc tài liệu gửi về đúng là của đương sự đang ở nước ngoài. Cũng theo cách thức liên hệ này và đã liên hệ được với đương sự đang ở nước ngoài, nhưng họ cố tình từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết đến lần thứ hai, thì Toà án có thể đưa vụ án ra xét xử. Trong trường hợp đương sự không có thân nhân ở trong nước, cũng như trong trường hợp không liên hệ được (không biết bị đơn đang ở đâu), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Đối với trường hợp này Toà án cần giải thích cho đương sự đang ở trong nước (nguyên đơn) biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú xác định bị đơn mất tích như đã hướng dẫn tại Nghị quyết số 3-HĐTP ngày 19-10-1990 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
2. Đối với các trường hợp cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài đã lấy được lời khai của đương sự, nhưng sau khi xét xử sơ thẩm thì việc giao bản sao bản án cho họ không thực hiện được vì họ không còn ở nơi ở cũ thì Toà án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án tại trụ sở của cơ quan ngoại giao đó. Trong thời hạn ba tháng kể từ ngày Toà án gửi Công văn và bản sao bản án yêu cầu cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài niêm yết bản sao bản án, dù Toà án có nhận được hay không nhận được thông báo của cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài về việc đã niêm yết bản sao bản án, nhưng không có đơn, thư của đương sự đang ở nước ngoài về việc đương sự đang ở nước ngoài có kháng cáo, đồng thời trong thời gian kháng cáo, kháng nghị được quy định tại Điều 59 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, bản án cũng không bị những người khác kháng cáo hoặc Viện kiểm sát nhân dân kháng nghị, thì Toà án có quyền đưa bản án ra thi hành.
|
| Trịnh Hồng Dương (Đã ký) |
- 1Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 2Công văn về việc ly hôn với một bên đang ở nước ngoài
- 3Công văn 72/TANDTC-PC năm 2017 thống nhất áp dụng quy định về án phí trong vụ án ly hôn do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
- 4Công văn 253/TANDTC-PC năm 2018 về giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ do Tòa án nhân dân tối cao ban hành
Công văn về việc giải quyết các vụ án ly hôn với một bên đương sự đang ở nước ngoài
- Số hiệu: 29/NCPL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 06/04/1992
- Nơi ban hành: Tòa án nhân dân tối cao
- Người ký: Trịnh Hồng Dương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 06/04/1992
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
