Công văn số 696 TCT/DNK được ban hành ngày 15/03/2004 bởi Tổng cục Thuế, hướng dẫn về các quy định liên quan đến hoá đơn, chứng từ khi doanh nghiệp thực hiện mua hàng hoá. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc của doanh nghiệp trong việc xác định tính hợp pháp, hợp lệ của chứng từ đầu vào khi tính thuế.
Nội dung trọng tâm về hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoáCông văn tập trung hướng dẫn các nguyên tắc sử dụng hoá đơn và chứng từ đối với từng trường hợp mua hàng cụ thể của doanh nghiệp, đặc biệt là việc mua sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản trực tiếp từ người dân:
- Trường hợp mua hàng hoá của các tổ chức, cá nhân kinh doanh: Doanh nghiệp khi mua hàng hoá phải yêu cầu người bán lập và giao hoá đơn theo đúng quy định (hoá đơn giá trị gia tăng hoặc hoá đơn bán hàng). Hoá đơn phải ghi đầy đủ, chính xác các chỉ tiêu như tên, địa chỉ, mã số thuế của hai bên, tên hàng hoá, dịch vụ, đơn giá, thành tiền và thuế suất (nếu có).
- Trường hợp mua nông, lâm, thuỷ sản trực tiếp từ người sản xuất: Đối với các mặt hàng nông sản, lâm sản, thuỷ hải sản do người dân trực tiếp đánh bắt, nuôi trồng hoặc khai thác bán ra không có hoá đơn, doanh nghiệp được phép lập Bảng kê thu mua hàng hoá (theo mẫu quy định của Bộ Tài chính) để làm căn cứ tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp.
- Yêu cầu đối với Bảng kê thu mua: Bảng kê phải được lập rõ ràng, ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ, số chứng minh nhân dân (hoặc giấy tờ tuỳ thân hợp pháp) của người bán, số lượng hàng hoá, đơn giá và tổng giá trị thanh toán. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải ký tên và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính xác thực của bảng kê này.
- Xử lý vi phạm về hoá đơn, chứng từ: Các trường hợp mua hàng hoá không có hoá đơn, chứng từ hợp pháp hoặc lập bảng kê không đúng đối tượng, không đúng thực tế sẽ không được chấp nhận là chi phí hợp lý và không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Công văn số 696 TCT/DNK giúp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc hạch toán chi phí đầu vào đối với các mặt hàng đặc thù mua từ người dân không kinh doanh. Đồng thời, văn bản cũng tăng cường vai trò quản lý của cơ quan thuế, hạn chế tình trạng gian lận thuế thông qua việc sử dụng hoá đơn bất hợp pháp hoặc lập khống chứng từ chi tiêu.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 696 TCT/DNK | Hà Nội, ngày 15 tháng 3 năm 2004 |
Kính gửi: Bộ Thương mại
Trả lời công văn số 0631 TM-MN ngày 17 tháng 2 năm 2004 của Bộ Thương mại về việc đề nghị tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn miền núi, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định của Luật thuế GTGT, đối với hộ kinh doanh chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ hoá đơn mua, bán hàng hoá, dịch vụ thì cơ quan thuế căn cứ vào tình hình kinh doanh của từng hộ ấn định mức doanh thu tính thuế; giá trị gia tăng được xác định bằng doanh thu ấn định nhân với tỷ lệ (%) giá trị gia tăng tính trên doanh thu. Những hộ kinh doanh này thường có doanh số thấp, mặt hàng và quy mô kinh doanh nhỏ và được thực hiện khoán doanh số ổn định từ 6 tháng đến 1 năm.
Đối với hộ kinh doanh thực hiện nộp thuế theo phương pháp khoán nêu trên, Bộ Tài chính đã có Thông tư số 99/2003/TT-BTC ngày 3 tháng 10 năm 2003 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 89/2002/NĐ-CP ngày 7 tháng 11 năm 2002 của Chính phủ về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn trong đó quy định hộ kinh doanh nộp thuế khoán ổn định nếu có nhu cầu được mua hoá đơn quyển, hoặc nếu không có nhu cầu sử dụng hoá đơn quyển thì được mua hoá đơn lẻ để xuất cho khách hàng khi khách hàng yêu càu cần có hoá đơn.
Như vậy, khi mua hàng nếu người mua yêu cầu hoá đơn, hộ kinh doanh sẽ phải xuất hoá đơn giao cho người mua hàng. Kiến nghị của Công ty TNHH Thương mại Tổng hợp Bảo Yên về việc người bán là hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán không xuất hoá đơn khi bán hàng hoá là chưa hợp lý.
Thông tư liên tịch số 94/2003/TTLT/BTC-BTM-BCA ngày 8 tháng 10 năm 2003 của liên Bộ hướng dẫn chế độ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường với Mục đích quy định chặt chẽ hơn việc kiểm tra, kiểm soát hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường tránh các hiện tượng người mua và người bán thông đồng với nhau không xuất hoá đơn để trốn thuế. Do đó khi mua hàng hoá đề nghị Công ty yêu cầu các hộ kinh doanh phải xuất hoá đơn giao cho để làm chứng từ hợp pháp khi vận chuyển hàng hoá lưu thông trên đường.
Tổng cục Thuế trả lời để Bộ Thương mại được biết.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 92/1997/TT-BTC sửa đổi Thông tư 73-TC/TCT-1997 hướng dẫn về chế độ hoá đơn chứng từ đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 120/2002/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 89/2002/NĐ-CP về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn do Bộ Tài Chính ban hành
- 3Thông tư liên tịch 94/2003/TTLT-BTC-BTM-BCA hướng dẫn chế độ sử dụng hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá lưu thông trên thị trường do Bộ Tài chính - Bộ Thương mại - Bộ Công an ban hành
- 4Thông tư 99/2003/TT-BTC sửa đổi Thông tư 120/2002/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 89/2002/NĐ-CP về việc in, phát hành, sử dụng, quản lý hoá đơn do Bộ Tài chính ban hành
Công văn số 696 TCT/DNK ngày 15/03/2004 của Tổng cục Thuế về việc hoá đơn, chứng từ khi mua hàng hoá
- Số hiệu: 696TCT/DNK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 15/03/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Văn Huyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 15/03/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
