Giới thiệu về Công văn số 623 TCT/ĐTNN
Công văn số 623 TCT/ĐTNN được Tổng cục Thuế ban hành ngày 10/03/2004 nhằm hướng dẫn các đơn vị, doanh nghiệp thực hiện thống nhất chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hoạt động ủy thác nhập khẩu hàng hóa. Văn bản này tập trung giải quyết các vướng mắc về thủ tục lập hóa đơn, chứng từ và nghĩa vụ kê khai, nộp thuế giữa bên giao ủy thác và bên nhận ủy thác.
Các nội dung trọng tâm về thuế GTGT hàng ủy thác nhập khẩu
Văn bản quy định chi tiết về nghĩa vụ nộp thuế, phương thức lập hóa đơn và khấu trừ thuế GTGT đối với hàng hóa nhập khẩu theo hình thức ủy thác như sau:
- Nghĩa vụ nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu: Bên nhận ủy thác nhập khẩu có trách nhiệm kê khai và nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu thay cho bên giao ủy thác khi làm thủ tục thông quan hàng hóa. Chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định số thuế đã nộp.
- Thủ tục trả hàng và lập hóa đơn của bên nhận ủy thác: Khi xuất trả hàng hóa nhập khẩu cho bên giao ủy thác, bên nhận ủy thác phải lập hóa đơn GTGT trả hàng. Trên hóa đơn phải ghi rõ giá trị thực tế nhập khẩu (bao gồm giá mua theo tờ khai hải quan, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt nếu có) và tiền thuế GTGT khâu nhập khẩu đã nộp thực tế.
- Thuế GTGT đối với phí dịch vụ ủy thác: Khoản phí dịch vụ ủy thác nhập khẩu mà bên nhận ủy thác được hưởng là doanh thu dịch vụ của bên nhận ủy thác. Bên nhận ủy thác phải lập hóa đơn GTGT riêng cho khoản phí dịch vụ này với thuế suất thuế GTGT theo quy định và thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT đối với phần doanh thu dịch vụ này.
- Khấu trừ thuế GTGT đầu vào của bên giao ủy thác: Bên giao ủy thác nhập khẩu được sử dụng hóa đơn xuất trả hàng của bên nhận ủy thác kèm theo chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu và hóa đơn dịch vụ ủy thác để làm căn cứ kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào theo quy định của pháp luật.
Ý nghĩa và phạm vi áp dụng của văn bản
Công văn số 623 TCT/ĐTNN giúp làm rõ quy trình luân chuyển chứng từ và phân định rõ trách nhiệm thuế giữa các bên trong giao dịch ủy thác nhập khẩu. Việc tuân thủ đúng các hướng dẫn tại công văn này giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro pháp lý liên quan đến việc kê khai sai hóa đơn, chứng từ và đảm bảo quyền lợi khấu trừ thuế GTGT đầu vào hợp pháp.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 623 TCT/ĐTNN | Hà Nội, ngày 10 tháng 3 năm 2004 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH Chil Sung Việt Nam |
Trả lời công văn ngày 22 tháng 12 năm 2003 của Công ty TNHH Chil Sung Việt Nam (Công ty Chil Sung) hỏi về vấn đề thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng hoá uỷ thác nhập khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ theo quy định tại điểm 5.3, mục IV, phần B Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ Tài chính: Cơ sở nhận uỷ thác nhập khẩu khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, nếu đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu thì cơ sở lập hoá đơn GTGT để cơ sở đi uỷ thác nhập khẩu làm căn cứ kê khai, khấu từ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá uỷ tác nhập khẩu. Trường hợp cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác chưa nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu, khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác, cơ sở lập phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ do Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế) phát hành kèm theo lệnh điều động nội bộ làm chứng từ lưu thông hàng hoá trên thị trường. Sau khi đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu cho hàng hoá nhập khẩu uỷ thác, cơ sở nhận uỷ thác mới lập hoá đơn GTGT theo quy định trên.
Căn cứ theo điểm 1.3, mục III, phần B Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 200 của Bộ Tài chính: Căn cứ để xác định số thuế GTGT đầu vào được khấu từ là số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào, chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu.
Căn cứ theo quy định trên, cơ sở nhận uỷ thác (cơ sở nhập khẩu) là người nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu. Trường hợp Công ty Chil Sung uỷ thác cho Công ty TNHH Thương mại xây dựng và vận tải Sao Việt nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên phụ liệu nhưng Công ty Chil Sung đã nộp thay thuế GTGT và thuế nhập khẩu cho Công ty Sao Việt thì số tiền nộp thay là công nợ giữa hai Công ty. Công ty Sao Việt phải xuất hoá đơn GTGT như hướng dẫn tại công văn số 4335 TCT/NV5 ngày 05 tháng 12 năm 2003 của Tổng cục Thuế để Công ty Chil Sung làm căn cứ khấu từ thuế GTGT đầu vào.
Tổng cục thuế trả lời để Công ty biết thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 623 TCT/ĐTNN ngày 10/03/2004 của Tổng cục thuế về việc thuế GTGT hàng uỷ thác nhập khẩu
- Số hiệu: 623TCT/ĐTNN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 10/03/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Văn Huyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 10/03/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
