Công văn số 516 TCT/DNK được Tổng cục Thuế ban hành ngày 02/03/2004 nhằm hướng dẫn các vướng mắc liên quan đến việc nộp thuế đối với các công trình xây dựng đã hoàn thành. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp các doanh nghiệp xây dựng và cơ quan thuế địa phương thống nhất phương án kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt.
1. Nguyên tắc xác định doanh thu và thời điểm xuất hóa đơn- Thời điểm xác định doanh thu để tính thuế GTGT và thuế TNDN đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là thời điểm nghiệm thu, bàn giao công trình, hạng mục công trình, khối lượng xây dựng, lắp đặt hoàn thành, không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.
- Khi công trình xây dựng đã hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng, đơn vị thi công có nghĩa vụ lập hóa đơn GTGT theo đúng quy định để làm căn cứ kê khai, nộp thuế.
- Đối với các công trình xây dựng, lắp đặt thực hiện tại địa phương nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính: Doanh nghiệp thực hiện kê khai và nộp thuế GTGT tập trung tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp.
- Đối với các công trình xây dựng ngoại tỉnh (vãng lai): Đơn vị thi công phải thực hiện kê khai và tạm nộp thuế GTGT tại địa phương nơi có công trình xây dựng theo tỷ lệ quy định trên giá trị công trình thanh toán. Số thuế GTGT đã nộp tại địa phương nơi xây dựng công trình sẽ được khấu trừ vào số thuế GTGT phải nộp tại trụ sở chính của doanh nghiệp.
- Doanh nghiệp xây dựng có trách nhiệm hạch toán đầy đủ doanh thu, chi phí của từng công trình để xác định thu nhập chịu thuế TNDN chung của toàn doanh nghiệp.
- Trường hợp thi công công trình ngoại tỉnh, doanh nghiệp thực hiện tạm nộp thuế TNDN tại địa phương nơi có công trình theo tỷ lệ trên doanh thu thiết kế, thi công xây dựng theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, sau đó thực hiện quyết toán thuế TNDN tập trung tại trụ sở chính.
- Trường hợp công trình đã hoàn thành, bàn giao và đưa vào sử dụng nhưng đơn vị thi công chậm trễ trong việc lập hóa đơn, kê khai nộp thuế sẽ bị xử lý vi phạm hành chính về thuế và hóa đơn theo quy định pháp luật hiện hành tại thời điểm phát sinh hành vi.
- Cơ quan thuế địa phương nơi có công trình xây dựng có trách nhiệm đôn đốc, kiểm tra và yêu cầu nhà thầu thực hiện nghiêm túc nghĩa vụ thuế trước khi giải ngân hoặc quyết toán vốn công trình.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 516 TCT/DNK | Hà Nội, ngày 02 tháng 3 năm 2004 |
| Kính gửi: | Xí nghiệp thương mại Thái Bình |
Trả lời công văn số 97/CVHC 2003 ngày 19/10/2003, công văn số 99/CVHC 2003 ngày 25/10/2003 của Xí nghiệp thương mại Thái Bình đề nghị được xem xét xử lý nợ đọng thuế cho các công trình xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn do ngân sách Nhà nước cấp, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ Luật thuế Doanh thu (nay là Luật thuế Giá trị gia tăng), Luật thuế Lợi tức (nay là Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp) thì: Trường hợp Xí nghiệp thương mại Thái Bình xây dựng công trình, công trình đã hoàn thành bàn giao thì về nguyên tắc Xí nghiệp thương mại Thái Bình phải nộp đầy đủ, đúng hạn số thuế vào Ngân sách, quá hạn sẽ bị phạt nộp chậm. Do đó việc xử lý phạt của Cục thuế tỉnh Cần Thơ là đúng. Xí nghiệp có trách nhiệm nộp đủ tiền thuế, tiền phạt nộp chậm vào ngân sách Nhà nước.
Theo trình bày của Xí nghiệp thì nguyên nhân chậm nộp thuế dẫn đến bị phạt là do bên chủ đầu tư chậm thanh toán tiền công trình đã gây thiệt hại cho Xí nghiệp; về việc này đề nghị Xí nghiệp làm việc với chủ đầu tư để có biện pháp giải quyết theo quy định của Pháp luật.
Tổng cục Thuế trả lời để Xí nghiệp thương mại Thái Bình, Cục thuế tỉnh Cần Thơ được biết và thực hiện./.
|
| KT/TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 516 TCT/DNK ngày 02/03/2004 của Tổng cục thuế về việc nộp thuế cho công trình xây dựng đã hoàn thành
- Số hiệu: 516TCT/DNK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 02/03/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 02/03/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
