Giới thiệu về Công văn số 503TCT/NV2
Công văn số 503TCT/NV2 được ban hành bởi Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính vào ngày 07 tháng 02 năm 2003. Văn bản này đưa ra các hướng dẫn quan trọng và cụ thể về việc quản lý, sử dụng hóa đơn, chứng từ đối với các khoản chi hộ giữa các doanh nghiệp, tổ chức. Đây là cơ sở pháp lý giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về thuế giá trị gia tăng (GTGT) và hạch toán kế toán chính xác đối với các nghiệp vụ thanh toán hộ.
Nội dung hướng dẫn chi tiết về sử dụng hóa đơn đối với khoản chi hộ
Tổng cục Thuế hướng dẫn cụ thể hai trường hợp phát sinh liên quan đến việc lập hóa đơn và kê khai thuế đối với các khoản chi hộ như sau:
1. Trường hợp hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ mang tên bên nhờ chi hộ (bên ủy quyền)
- Khi doanh nghiệp nhận ủy quyền thực hiện chi hộ các khoản chi phí cho khách hàng hoặc đối tác, nếu các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp được xuất trực tiếp dưới tên, địa chỉ và mã số thuế của bên nhờ chi hộ (bên ủy quyền).
- Bên chi hộ chỉ đóng vai trò là người thanh toán tiền thay. Khi nhận lại tiền chi hộ từ bên nhờ chi hộ, bên chi hộ không phải lập hóa đơn GTGT.
- Bên chi hộ lập chứng từ thu tiền (phiếu thu) và bàn giao toàn bộ hóa đơn gốc của nhà cung cấp cho bên nhờ chi hộ để bên nhờ chi hộ làm căn cứ kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào và hạch toán chi phí được trừ theo quy định.
2. Trường hợp hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ mang tên bên chi hộ (bên nhận ủy quyền)
- Trong trường hợp bên chi hộ trực tiếp đứng tên trên hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từ nhà cung cấp (hóa đơn ghi tên, địa chỉ, mã số thuế của bên chi hộ).
- Khi thu lại tiền từ bên nhờ chi hộ, bên chi hộ phải lập hóa đơn GTGT xuất trả cho bên nhờ chi hộ.
- Nội dung trên hóa đơn phải ghi rõ là thu hồi khoản chi hộ, dòng thuế suất và tiền thuế GTGT phải được thể hiện đúng theo hóa đơn gốc mà bên chi hộ đã nhận từ nhà cung cấp dịch vụ ban đầu.
- Bên chi hộ thực hiện kê khai thuế GTGT đầu ra tương ứng, đồng thời được kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào từ hóa đơn của nhà cung cấp. Bên nhờ chi hộ sử dụng hóa đơn do bên chi hộ xuất để làm căn cứ khấu trừ thuế và tính vào chi phí hợp lý.
Ý nghĩa và lưu ý khi áp dụng quy định
- Quy định này giúp phân định rõ ràng trách nhiệm nghĩa vụ thuế giữa bên chi hộ và bên nhờ chi hộ, tránh việc đánh thuế trùng lặp đối với các khoản doanh thu không thực tế phát sinh của bên chi hộ.
- Các doanh nghiệp cần lưu ý chuẩn bị đầy đủ hợp đồng ủy quyền hoặc thỏa thuận chi hộ bằng văn bản để làm cơ sở giải trình với cơ quan thuế khi có thanh tra, kiểm tra.
- Việc luân chuyển chứng từ và lập hóa đơn phải đảm bảo tính khớp đúng về mặt số liệu, thời gian và đối tượng thụ hưởng dịch vụ.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 503TCT/NV2 | Hà Nội, ngày 07 tháng 2 năm 2003 |
Kính gửi: Công ty XNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật (Bộ Thương mại)
Trả lời công văn số 743/KHTC ngày 24/12/2002 của Công ty XNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật về việc sử dụng hoá đơn đối với khoản Công ty chi hộ cho bên uỷ thác nhập khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ quy định tại Điểm 5.3, Mục IV, Phần B Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính thì việc xuất hoá đơn đối với khoản chi hộ cho bên uỷ thác nhập khẩu được xử lý như sau:
Trường hợp Công ty nhận uỷ thác nhập khẩu có phát sinh các khoản chi hộ cho bên uỷ thác thì khi chi hộ, Công ty lập chứng từ ghi tên, địa chỉ, mã số thuế của bên uỷ thác để chuyển cho bên uỷ thác làm căn cứ để hạch toán và khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp Công ty nhận uỷ thác nhập khẩu cho nhiều cơ sở, chứng từ chi liên quan đến nhiều cơ sở, không thể tách riêng cho từng cơ sở được, vì vậy chứng từ chi phải ghi tên, địa chỉ, mã số thuế của Công ty thì:
- Đối với chứng từ chi mang tính chất phí, lệ phí (không có hoá đơn GTGT) thì Công ty và bên ủy thác làm biên bản thanh lí hợp đồng uỷ thác để thanh toán khoản chi này. Hợp đồng uỷ thác, biên bản thanh lí hợp đồng (hoặc đối chiếu công nợ), chứng từ chi là căn cứ để Công ty và bên uỷ thác thanh toán và hạch toán chi phí.
- Đối với chứng từ chi liên quan đến hàng hoá, dịch vụ thuộc diện chịu thuế GTGT có hoá đơn GTGT thì Công ty lập hoá đơn GTGT theo đúng giá và thuế GTGT thực trả liên quan đến hàng hoá nhập khẩu uỷ thác; hoá đơn này là căn cứ để Công ty và bên uỷ thác thanh toán với nhau làm cơ sở kê khai thuế GTGT (đầu ra, đầu vào)./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 503TCT/NV2 ngày 7/02/2003 của Tổng cục Thuế - Bộ Tài chính về việc sử dụng hoá đơn đối với khoản chi hộ
- Số hiệu: 503TCT/NV2
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/02/2003
- Nơi ban hành: Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/02/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
