Tóm tắt Công văn số 4164 TCT/NV6 về việc kê khai doanh thu nhập khẩu ủy thác
Công văn số 4164 TCT/NV6 được Tổng cục Thuế ban hành ngày 19/11/2003 nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp và cơ quan thuế địa phương thực hiện thống nhất việc kê khai doanh thu, nghĩa vụ thuế đối với hoạt động nhập khẩu ủy thác. Đây là văn bản quan trọng giúp phân định rõ doanh thu tính thuế giữa bên giao ủy thác và bên nhận ủy thác nhập khẩu, tránh việc trùng lặp hoặc bỏ sót nghĩa vụ thuế.
- Xác định doanh thu tính thuế đối với bên nhận ủy thác nhập khẩu
Theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, hoạt động nhập khẩu ủy thác là một hình thức cung ứng dịch vụ thương mại. Do đó, doanh thu và nghĩa vụ thuế của bên nhận ủy thác được quy định cụ thể như sau:
- Doanh thu tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Doanh thu của bên nhận ủy thác chỉ là khoản phí dịch vụ ủy thác (hoa hồng ủy thác) được hưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng ủy thác nhập khẩu. Khoản phí này phải chịu thuế GTGT theo thuế suất quy định đối với dịch vụ đại lý, môi giới, ủy thác.
- Trị giá hàng hóa nhập khẩu ủy thác: Toàn bộ trị giá của lô hàng nhập khẩu (bao gồm giá mua, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt nếu có, và các chi phí phát sinh thực tế khác liên quan trực tiếp đến lô hàng nhập khẩu) không được tính vào doanh thu của bên nhận ủy thác. Đây là tài sản và chi phí của bên giao ủy thác.
- Nghĩa vụ kê khai và nộp thuế của các bên liên quan
Công văn làm rõ trách nhiệm kê khai thuế của cả bên nhận ủy thác và bên giao ủy thác nhằm đảm bảo tính minh bạch trong công tác quản lý thuế:
- Đối với bên nhận ủy thác: Có trách nhiệm xuất hóa đơn GTGT cho phần phí dịch vụ ủy thác nhập khẩu nhận được từ bên giao ủy thác. Thực hiện kê khai, nộp thuế GTGT và thuế TNDN đối với phần doanh thu dịch vụ này theo quy định hiện hành. Khi nộp thay các khoản thuế ở khâu nhập khẩu (thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu), bên nhận ủy thác phải sử dụng chứng từ nộp thuế ghi rõ tên bên giao ủy thác hoặc thực hiện các thủ tục bàn giao chứng từ theo đúng quy định để bên giao ủy thác làm căn cứ khấu trừ thuế.
- Đối với bên giao ủy thác: Là chủ sở hữu thực tế của lô hàng nhập khẩu, có trách nhiệm kê khai và nộp các khoản thuế phát sinh ở khâu nhập khẩu (thuế nhập khẩu, thuế GTGT hàng nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt nếu có). Bên giao ủy thác được quyền kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với lô hàng nhập khẩu dựa trên chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu do bên nhận ủy thác bàn giao lại. Đồng thời, khoản phí ủy thác nhập khẩu trả cho bên nhận ủy thác được tính vào chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN.
- Nguyên tắc lập hóa đơn và luân chuyển chứng từ
Để đảm bảo tính hợp pháp và minh bạch trong công tác quản lý thuế, việc lập hóa đơn và luân chuyển chứng từ giữa hai bên phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Bên nhận ủy thác phải lập hóa đơn dịch vụ ủy thác nhập khẩu riêng biệt để giao cho bên giao ủy thác, trên đó ghi rõ doanh thu dịch vụ và tiền thuế GTGT tương ứng.
- Các chứng từ nộp thuế ở khâu nhập khẩu, biên lai, hóa đơn chi phí hộ (nếu có) phải được bên nhận ủy thác tập hợp đầy đủ và bàn giao lại cho bên giao ủy thác để làm căn cứ hạch toán kế toán và quyết toán thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4164 TCT/NV6 | Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2003 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH Văn Minh |
Trả lời công văn số 1908/CV-TCT ngày 19 tháng 8 năm 2003 của Công ty TNHH Văn Minh về việc kê khai doanh thu nhập khẩu uỷ thác, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Theo quy định tại Điểm 5 Mục II Phần C và Điểm 5.3 Mục IV Phần B Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Luật thuế GTGT thì:
1. Cơ sở nhận nhập khẩu uỷ thác hàng hoá khi xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác phải lập hoá đơn GTGT khi đã nộp thuế GTGT ở khâu nhập khẩu để cơ sở đi uỷ thác nhập khẩu làm căn cứ kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hàng hoá uỷ thác nhập khẩu. Hoá đơn GTGT xuất trả hàng nhập khẩu uỷ thác ghi:
a. Giá bán chưa có thuế GTGT bao gồm: giá trị hàng hoá thực tế nhập khẩu theo giá CIF, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và các Khoản phải nộp theo chế độ nhà nước ở khâu nhập khẩu (nếu có).
b. Thuế suất thuế GTGT và tiền thuế GTGT ghi theo thông báo nộp thuế của cơ quan Hải quan.
c. Tổng cộng tiền thanh toán (= a + b)
Cơ sở nhận uỷ thác nhập khẩu hàng hoá không phải kê khai, nộp thuế GTGT đối với hàng hoá nhập khẩu uỷ thác nhưng phải kê khai hoá đơn GTGT lập cho hàng hoá nhập khẩu uỷ thác đã trả cho cơ sở đi uỷ thác nhập khẩu với cơ quan thuế trên bảng kê số 03/GTGT (Bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào) cùng với hoá đơn, chứng từ của hàng hoá, dịch vụ mua vào khác. Hoá đơn đối với hàng hoá nhập khẩu uỷ thác kê riêng trong bảng kê.
- Giá trị hàng nhập khẩu uỷ thác được kê trên bảng kê mua vào là giá bán chưa có thuế GTGT trên hoá đơn.
2. Đối với hoa hồng dịch vụ uỷ thác nhập khẩu, cơ sở phải lập hoá đơn GTGT riêng để thanh toán tiền hoa hồng uỷ thác nhập khẩu cho đơn vị uỷ thác và thực hiện kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế như các loại hàng hoá, dịch vụ khác.
Tổng cục Thuế trả lời để Công ty biết và thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 4164 TCT/NV6 ngày 19/11/2003 của Tổng cục thuế về việc kê khai doanh thu nhập khẩu uỷ thác
- Số hiệu: 4164TCT/NV6
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 19/11/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Duy Khương
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 19/11/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
