Công văn số 35/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng, giải đáp các vướng mắc liên quan đến việc tính thời gian thử việc vào thời gian làm việc thực tế để làm cơ sở tính trợ cấp thôi việc cho người lao động. Đây là căn cứ pháp lý giúp các doanh nghiệp và người lao động thực hiện đúng quyền lợi, nghĩa vụ khi chấm dứt hợp đồng lao động.
1. Quy định về việc tính thời gian thử việc vào thời gian tính trợ cấp thôi việc
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn rõ ràng về việc xác định thời gian thử việc có được gộp vào thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc hay không, cụ thể chia thành hai trường hợp:
- Trường hợp được tính: Nếu người lao động thử việc và sau khi kết thúc thời gian thử việc, người lao động tiếp tục làm việc cho người sử dụng lao động (giao kết hợp đồng lao động chính thức) thì thời gian thử việc này được tính là thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động để làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc.
- Trường hợp không được tính: Nếu sau khi kết thúc thời gian thử việc, người lao động không tiếp tục làm việc hoặc hai bên không tiến hành giao kết hợp đồng lao động chính thức thì thời gian thử việc này không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc.
2. Nguyên tắc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó (nếu có).
- Thời gian làm việc thực tế bao gồm: Thời gian làm việc thực tế theo hợp đồng; thời gian thử việc (nếu tiếp tục làm việc sau thử việc); thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho doanh nghiệp; thời gian nghỉ hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (ốm đau, thai sản); thời gian nghỉ hằng năm, nghỉ lễ, tết có hưởng lương và các khoảng thời gian được tính là làm việc khác theo quy định của pháp luật lao động.
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp: Bao gồm thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, thời gian được tính là đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương một khoản tiền tương đương mức đóng bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động.
3. Trách nhiệm thực hiện của người sử dụng lao động
Văn bản hướng dẫn nhằm chuẩn hóa quy trình áp dụng pháp luật lao động tại các doanh nghiệp, bảo đảm quyền lợi chính đáng cho người lao động:
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm rà soát kỹ lưỡng hồ sơ nhân sự, xác định chính xác mốc thời gian bắt đầu thử việc và quá trình đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động để tính toán chuẩn xác khoản trợ cấp thôi việc.
- Việc chi trả trợ cấp thôi việc phải được thực hiện đầy đủ, đúng hạn khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hợp pháp, với mức trợ cấp mỗi năm làm việc bằng một nửa tháng tiền lương.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 35/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2009 |
| Kính gửi: | Đại học quốc tế RMIT |
Trả lời thư hỏi ngày 18/12/2008 của quý trường, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1. Theo quy định tại Điều 32 Bộ luật Lao động thì “Người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận về việc làm thử, thời gian thử việc, về quyền, nghĩa vụ hai bên”. Do đó, hai bên có thể thỏa thuận cụ thể về cách tính thời gian thử việc: là ngày làm việc thực tế hay là ngày tính theo dương lịch.
Trường hợp hai bên không thỏa thuận cụ thể về cách tính thời gian thử việc, nếu phát sinh tranh chấp thì sẽ áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự về thời hạn để tính thời gian thử việc.
2. Căn cứ quy định tại Điều 41 Nghị định 127/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12/12/2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp thì:
- Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật về lao động và pháp luật về cán bộ, công chức.
- Thời gian người lao động thực tế làm việc theo các bản hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động mà không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp thì được tính để xét hưởng trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của pháp luật lao động hiện hành hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.
- Tiền lương, tiền công làm căn cứ tính chế độ trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo pháp luật về lao động là tiền lương, tiền công theo hợp đồng lao động, được tính bình quân của 6 tháng liền kề trước khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, gồm tiền công hoặc tiền lương cấp bậc, chức vụ, phụ cấp khu vực, phụ cấp chức vụ (nếu có).
Trên đây là ý kiến của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội để quý trường tham khảo và thực hiện
|
Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
Công văn số 35/LĐTBXH-LĐTL về việc thời gian thử việc và trợ cấp thôi việc do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 35/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/01/2009
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Phạm Minh Huân
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/01/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
