Công văn số 3455/TCHQ-GSQL do Tổng cục Hải quan ban hành nhằm hướng dẫn chi tiết về thủ tục, điều kiện và chính sách thuế đối với việc nhập khẩu xe ô tô theo chế độ tài sản di chuyển của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Việt kiều) sau khi được giải quyết đăng ký thường trú tại Việt Nam. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất quy trình thực hiện tại các cục hải quan địa phương, đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho kiều bào khi hồi hương đồng thời ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản áp dụng đối với các cơ quan hải quan các cấp thực hiện thủ tục thông quan và người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam giải quyết cho đăng ký thường trú, có nhu cầu nhập khẩu xe ô tô đang sử dụng làm tài sản di chuyển về nước.
Điều kiện đối với xe ô tô nhập khẩu làm tài sản di chuyển
- Quyền sở hữu hợp pháp: Xe ô tô phải thuộc sở hữu hợp pháp của cá nhân Việt kiều trước khi được giải quyết đăng ký thường trú tại Việt Nam. Điều này phải được chứng minh bằng các giấy tờ đăng ký xe hoặc giấy chứng nhận sở hữu do cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại cấp.
- Tiêu chuẩn kỹ thuật và niên hạn: Xe ô tô nhập khẩu phải đáp ứng đầy đủ các quy định về kiểm định an toàn kỹ thuật, bảo vệ môi trường và niên hạn sử dụng theo quy định của pháp luật Việt Nam đối với xe đã qua sử dụng.
- Giới hạn số lượng: Mỗi cá nhân Việt kiều khi về nước định cư chỉ được phép nhập khẩu tối đa 01 (một) chiếc xe ô tô theo chế độ tài sản di chuyển cá nhân.
Chính sách thuế và nghĩa vụ tài chính
- Thuế nhập khẩu: Xe ô tô là tài sản di chuyển của cá nhân Việt kiều hồi hương được xem xét miễn thuế nhập khẩu theo quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các văn bản hướng dẫn liên quan, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tài sản di chuyển.
- Thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng: Đối tượng nhập khẩu vẫn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng tại khâu nhập khẩu theo quy định của pháp luật thuế hiện hành.
- Trách nhiệm kê khai: Người nhập khẩu có nghĩa vụ tự kê khai, tính thuế và nộp thuế đầy đủ, đúng hạn đối với các khoản thuế không được miễn.
Thủ tục hải quan và hồ sơ pháp lý yêu cầu
- Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép: Người nhập khẩu phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ bao gồm đơn đề nghị nhập khẩu xe ô tô, hộ chiếu Việt Nam hoặc hộ chiếu nước ngoài có giá trị đi lại quốc tế, giấy tờ chứng minh đã được giải quyết thường trú tại Việt Nam, và chứng từ đăng ký xe ở nước ngoài.
- Quy trình thông quan: Chi cục Hải quan nơi làm thủ tục tiến hành kiểm tra chi tiết hồ sơ giấy tờ, đối chiếu thực tế phương tiện nhập khẩu về chủng loại, nhãn hiệu, số khung, số máy để đảm bảo tính đồng nhất và hợp pháp trước khi quyết định thông quan.
Hiệu lực thi hành và tổ chức thực hiện
Công văn số 3455/TCHQ-GSQL có hiệu lực áp dụng ngay từ ngày ban hành. Tổng cục Hải quan yêu cầu Cục Hải quan các tỉnh, thành phố chỉ đạo các Chi cục Hải quan trực thuộc thực hiện nghiêm túc, đúng quy trình hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân nhưng phải đảm bảo giám sát chặt chẽ, tránh việc lợi dụng chính sách tài sản di chuyển để buôn lậu hoặc trốn thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3455/TCHQ-GSQL | Hà Nội, ngày 03 tháng 08 năm 2006 |
Kính gửi: Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh
Trả lời công văn số 1505/HQTP-NV ngày 15/05/2006 của Cục Hải quan Thành phố báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo một số nội dung liên quan đến việc nhập khẩu xe ôtô của Việt Kiều hồi hương.
Về vấn đề này, hiện Tổng cục đang cùng Bộ Thương mại tiến hành sửa đổi, thay thế Thông tư liên tịch số 27/2001/TTLT-BTM-TCHQ ngày 06/12/2001 của liên Bộ Thương mại - Tổng cục Hải quan, do vậy trong khi chờ ban hành Thông tư mới, Tổng cục có ý kiến về các vướng mắc nêu tại công văn 1505/HQTP-NV dẫn trên, cụ thể như sau:
1. Điểm 1 công văn 1505/HQTP-NV:
Theo quy định tại Điểm 2, Thông tư 27/2001/TTLT/BTM-TCHQ ngày 06/12/2001 thì người Việt Nam ở nước ngoài chỉ được nhập miễn thuế xe ôtô dưới dạng tài sản di chuyển khi có Quyết định (giấy báo tin) của Bộ Công an cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài trở về định cư ở Việt Nam.
Như vậy, trường hợp Việt Kiều chuyển xe về Việt Nam khi chưa được Bộ Công an cho phép hồi hương là trái với quy định trên, do vậy sẽ bị xử lý vi phạm theo quy định tại Điểm 1, phần III, Thông tư 27/2001/TTLT/BTM-TCHQ nêu trên.
2. Điểm 2, công văn 1505/HQTP-NV: Tại gạch (-) đầu dòng thứ 4, Điểm 2, phần II, Thông tư liên tịch số 27/2001/TTLT-BTM-TCHQ quy định: "Giấy đăng ký xe có thời gian ít nhất là 06 tháng trước thời Điểm về nước" tức là 6 tháng trước thời Điểm có quyết định (giấy báo tin) của Bộ Công an cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài về nước hồi hương.
3. Điểm 3, công văn 1505/HQTP-NV: Tại gạch đầu dòng thứ 5, Điểm 2, Thông tư liên tịch số 27/2001/TTLT-BTM-TCHQ nêu trên quy định khi làm thủ tục nhập khẩu người nhập khẩu phải nộp Bằng lái ôtô (bản sao có công chứng kèm bản dịch tiếng Việt có công chứng). Theo đó, các trường hợp không có giấy phép lái xe của nước sở tại thì không đáp ứng quy định tại Điểm này, do vậy không được phép nhập khẩu xe theo quy định.
Tổng cục trả lời để Cục Hải quan Thành phố thực hiện./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
Công văn số 3455/TCHQ-GSQL về việc nhập khẩu xe ôtô của việt kiều do Tổng cục Hải quan ban hành
- Số hiệu: 3455/TCHQ-GSQL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 03/08/2006
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Đặng Hạnh Thu
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 03/08/2006
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
