Tóm tắt Công văn số 3145/LĐTBXH-LĐTL về trợ cấp thôi việc đối với người lao động
Công văn số 3145/LĐTBXH-LĐTL do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc tính và chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Văn bản tập trung làm rõ cách xác định thời gian làm việc thực tế, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp và mức tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp.
1. Nguyên tắc xác định thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc
Theo hướng dẫn, thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm trước đó. Các khoảng thời gian làm việc thực tế bao gồm:
- Thời gian người lao động đã làm việc thực tế theo các bản hợp đồng lao động đã giao kết.
- Thời gian được người sử dụng lao động cử đi học tập, đào tạo nâng cao trình độ.
- Thời gian nghỉ hưởng chế độ ốm đau, thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.
- Thời gian nghỉ điều trị, phục hồi chức năng lao động khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp mà được người sử dụng lao động thanh toán tiền lương.
- Thời gian nghỉ ngơi để thực hiện nghĩa vụ công dân theo quy định của pháp luật mà được hưởng lương từ người sử dụng lao động.
- Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động hoặc thời gian bị tạm đình chỉ công việc nhưng sau đó được kết luận là không có lỗi.
2. Xác định thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp để khấu trừ
Để tránh việc chi trả trùng lặp, thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp sẽ không được tính vào thời gian nhận trợ cấp thôi việc từ người sử dụng lao động. Quy định cụ thể như sau:
- Thời gian đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm thời gian người sử dụng lao động và người lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp, hoặc thời gian được cộng dồn theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
- Đối với các khoảng thời gian trước ngày 01/01/2009 (thời điểm Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 về bảo hiểm thất nghiệp chưa có hiệu lực), người lao động không thuộc đối tượng đóng bảo hiểm thất nghiệp thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho khoảng thời gian này.
- Trường hợp người lao động có thời gian thử việc, nếu sau đó hai bên ký hợp đồng lao động và thời gian thử việc này chưa được đóng bảo hiểm thất nghiệp thì thời gian thử việc được tính là thời gian làm việc thực tế để tính trợ cấp thôi việc.
3. Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc
Văn bản hướng dẫn chi tiết về cách xác định mức lương làm cơ sở tính toán nhằm đảm bảo quyền lợi tối đa cho người lao động:
- Tiền lương làm căn cứ tính trợ cấp thôi việc là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động thôi việc.
- Cơ cấu tiền lương này bao gồm mức lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận ghi trong hợp đồng lao động theo đúng quy định của pháp luật lao động tại thời điểm chấm dứt hợp đồng.
4. Định mức chi trả và phương thức làm tròn thời gian lẻ
Mức chi trả trợ cấp thôi việc được thực hiện theo quy định chung của Bộ luật Lao động, cụ thể:
- Mỗi năm làm việc được trợ cấp nửa tháng lương (1/2 tháng lương) cho những khoảng thời gian đủ điều kiện nhận trợ cấp.
- Trường hợp thời gian làm việc lẻ dưới 01 năm thì được làm tròn như sau: Từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm làm việc; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ khoản trợ cấp thôi việc cho người lao động trong thời hạn quy định kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 3145/LĐTBXH-LĐTL | Hà Nội, ngày 24 tháng 08 năm 2009 |
Kính gửi: Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Bình
Trả lời công văn số 1158/LĐTBXH-LĐTL ngày 06/7/2009 của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Ninh Bình về trợ cấp thôi việc đối với người lao động, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
Theo nội dung công văn số 1158/LĐTBXH-LĐTL nêu trên thì ông Lê Minh Châu nghỉ việc năm 1979, theo đó việc giải quyết chế độ trợ cấp thôi việc đối với ông Châu tại thời điểm năm 1979 được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 88-TTG-CN ngày 01/10/1964 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 17-LĐ-TT ngày 09/11/1964 của Bộ Lao động (nay là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) hướng dẫn thi hành Thông tư số 88-TTg-CN của Thủ tướng Chính phủ về chế độ trợ cấp thôi việc và các văn bản liên quan.
Đề nghị Sở Lao động – Thương binh và Xã hội căn cứ quy định trên và hồ sơ, kiều kiện hoàn cảnh thực tế của ông Châu để báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình xem xét, xử lý về trợ cấp thôi việc đối với ông Châu cho phù hợp./.
| Nơi nhận: | TL. BỘ TRƯỞNG |
Công văn số 3145/LĐTBXH-LĐTL về trợ cấp thôi việc đối với người lao động do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành
- Số hiệu: 3145/LĐTBXH-LĐTL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 24/08/2009
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Tống Thị Minh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 24/08/2009
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
