Giới thiệu chung về Công văn số 2651 TCT/DNNN
Công văn số 2651 TCT/DNNN được Tổng cục Thuế ban hành ngày 20/08/2004 nhằm hướng dẫn chi tiết về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với các khoản thu nhập nhận được từ nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, tránh việc đánh thuế trùng hai lần và bảo đảm quyền lợi hợp pháp theo quy định của pháp luật thuế Việt Nam.
1. Đối tượng áp dụng và nghĩa vụ kê khai thuế
Theo hướng dẫn tại Công văn số 2651 TCT/DNNN, đối tượng chịu sự điều chỉnh và có nghĩa vụ thực hiện bao gồm:
- Các doanh nghiệp Việt Nam có hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh tại nước ngoài và phát sinh thu nhập từ các hoạt động này chuyển về nước.
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ phải kê khai và nộp thuế TNDN đối với toàn bộ phần thu nhập nhận được từ nước ngoài vào ngân sách nhà nước Việt Nam theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.
2. Phương pháp xác định thu nhập chịu thuế và thuế suất áp dụng
Việc xác định thuế TNDN đối với khoản thu nhập từ nước ngoài được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
- Thu nhập nhận được từ nước ngoài là khoản thu nhập sau khi đã nộp thuế thu nhập ở nước ngoài hoặc thu nhập trước khi nộp thuế ở nước ngoài (tùy thuộc vào phương pháp xác định để thực hiện khấu trừ thuế).
- Thuế suất áp dụng để tính thuế TNDN đối với phần thu nhập từ nước ngoài là mức thuế suất phổ thông quy định tại Luật Thuế TNDN của Việt Nam tại thời điểm phát sinh (thời điểm năm 2004 là 28%).
- Doanh nghiệp phải tự tính toán, quy đổi các khoản thu nhập bằng ngoại tệ ra Đồng Việt Nam (VND) theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm nhận thu nhập để làm cơ sở tính thuế.
3. Nguyên tắc khấu trừ số thuế thu nhập đã nộp ở nước ngoài
Để tránh đánh thuế trùng hai lần đối với cùng một khoản thu nhập, Tổng cục Thuế hướng dẫn nguyên tắc khấu trừ thuế như sau:
- Doanh nghiệp Việt Nam đã nộp thuế thu nhập ở nước ngoài đối với khoản thu nhập phát sinh tại nước ngoài sẽ được khấu trừ số thuế đã nộp đó vào số thuế TNDN phải nộp tại Việt Nam.
- Số thuế thu nhập đã nộp ở nước ngoài được trừ không được vượt quá số thuế TNDN tính trên khoản thu nhập đó theo quy định của Luật Thuế TNDN Việt Nam.
- Trường hợp giữa Việt Nam và quốc gia nơi doanh nghiệp đầu tư có ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, việc xác định số thuế được khấu trừ hoặc miễn giảm sẽ thực hiện theo các điều khoản quy định cụ thể tại Hiệp định đó.
4. Yêu cầu về hồ sơ, chứng từ chứng minh
Để được hưởng quyền lợi khấu trừ số thuế đã nộp ở nước ngoài, doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ và chứng từ hợp pháp bao gồm:
- Tờ khai thuế TNDN đối với thu nhập nhận được từ nước ngoài.
- Các chứng từ nộp thuế hoặc biên lai nộp thuế do cơ quan thuế nước ngoài cấp, hoặc xác nhận của cơ quan thuế nước ngoài về số thuế đã nộp.
- Báo cáo tài chính hoặc các tài liệu liên quan chứng minh khoản thu nhập phát sinh và số thuế đã thực nộp ở nước ngoài.
- Các tài liệu này nếu bằng tiếng nước ngoài phải được dịch ra tiếng Việt và có xác nhận theo quy định của pháp luật.
Ý nghĩa pháp lý của văn bản
Công văn số 2651 TCT/DNNN đóng vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng giúp tháo gỡ vướng mắc cho các doanh nghiệp Việt Nam khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài. Văn bản vừa đảm bảo quyền thu thuế của quốc gia, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thông qua cơ chế khấu trừ thuế tránh đánh thuế trùng, thúc đẩy hoạt động đầu tư quốc tế của các doanh nghiệp trong nước phát triển lành mạnh và đúng pháp luật.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2651 TCT/DNNN | Hà Nội, ngày 20 tháng 8 năm 2004 |
Kính gửi: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam
Trả lời công văn số 752/NHNT.KTTC ngày 18/7/2004 của Ngân hàng ngoại thương Việt Nam v/v vướng mắc trong quá trình phê duyệt quyết toán tài chính của đơn vị thành viên ở nước ngoài, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Hiện nay, Việt Nam chưa ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Hồng Kông. Do đó, thu nhập chịu thuế nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Hồng Kông là Khoản thu nhập trước khi nộp thuế thu nhập ở nước ngoài. Sau khi đã xác định số thuế TNDN phải nộp theo Luật thuế TNDN thì được trừ số thuế thu nhập đã nộp ở nước ngoài để nộp vào NSNN. Số thuế đã nộp ở nước ngoài được trừ không vượt quá số thuế TNDN phải nộp theo Luật thuế TNDN theo quy định tại Điểm 13, Mục V, phần B Thông tư số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Luật thuế TNDN.
Tổng cục Thuế trả lời để Ngân hàng ngoại thương Việt Nam được biết và thực hiện./.
|
| KT.TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 2651 TCT/DNNN ngày 20/08/2004 của Tổng cục Thuế về việc thuế TNDN đối với thu nhập từ nước ngoài
- Số hiệu: 2651TCT/DNNN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 20/08/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 20/08/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
