Công văn số 2524 TCT/TNCN được Tổng cục Thuế ban hành ngày 11/08/2004 nhằm hướng dẫn cụ thể về việc xác định khoản tiền nhà do người sử dụng lao động trả thay cho người lao động để tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (tại thời điểm ban hành là thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao). Đây là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng giúp các doanh nghiệp và cơ quan thuế thống nhất phương pháp tính toán, tránh các vướng mắc phát sinh trong quá trình quyết toán thuế.
- Đối tượng áp dụng và phạm vi điều chỉnh- Áp dụng đối với các cá nhân có thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân (bao gồm cả lao động trong nước và lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam) được tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập hỗ trợ hoặc thanh toán hộ tiền thuê nhà.
- Điều chỉnh cách thức xác định phần tiền nhà tính vào thu nhập chịu thuế trong trường hợp người sử dụng lao động ký hợp đồng thuê nhà và trả thay tiền nhà cho người lao động.
- Trường hợp người sử dụng lao động trả thay tiền nhà cho người lao động thì khoản tiền nhà này là một khoản lợi ích bằng tiền hoặc không bằng tiền tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
- Mức tiền thuê nhà tính vào thu nhập chịu thuế được xác định theo số thực tế chi trả nhưng không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh tại đơn vị (chưa bao gồm tiền thuê nhà).
- Công thức xác định phần tiền nhà tính vào thu nhập chịu thuế: Phần tiền nhà tính vào thu nhập chịu thuế bằng giá trị nhỏ hơn giữa số tiền thuê nhà thực tế trả thay và 15% tổng thu nhập chịu thuế (chưa gồm tiền nhà).
- Đối với trường hợp người lao động nhận khoán chi tiền nhà: Nếu doanh nghiệp khoán chi tiền nhà trực tiếp vào lương cho người lao động thì toàn bộ khoản tiền khoán chi này phải tính vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của người lao động mà không áp dụng mức khống chế 15%.
- Đối với trường hợp doanh nghiệp thuê nhà chung cho nhiều người lao động: Doanh nghiệp phải thực hiện phân bổ chi phí tiền thuê nhà cho từng cá nhân sử dụng trước khi áp dụng mức khống chế 15% để xác định thu nhập chịu thuế của từng người.
- Yêu cầu về chứng từ chứng minh: Doanh nghiệp phải có đầy đủ hợp đồng thuê nhà, hóa đơn, chứng từ thanh toán hợp pháp theo quy định của pháp luật để làm cơ sở tính toán và khấu trừ thuế.
- Tạo hành lang pháp lý rõ ràng giúp doanh nghiệp chủ động trong việc lập kế hoạch chi trả thu nhập và tối ưu hóa chi phí thuế cho người lao động một cách hợp pháp.
- Hạn chế tình trạng lách thuế thông qua việc chuyển đổi các khoản lương, thưởng thành chi phí tiền nhà vượt quá mức hợp lý.
- Đảm bảo tính công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế có các hình thức nhận thu nhập khác nhau.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 2524 TCT/TNCN | Hà Nội, ngày 11 tháng 8 năm 2004 |
Kính gửi: Công ty TNHH KPMG
Trả lời Công văn ngày 25 tháng 6 năm 2004 của Công ty TNHH KPMG hỏi về phương pháp tính thu nhập chịu thuế đối với tiền nhà của nhân viên nước ngoài trong trường hợp thu nhập thực nhập không có thuế thu nhập (thu nhập NET) theo tinh thần của Thông tư số 05/2002/TT-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2002 của Bộ Tài chính, Tổng cục thuế có ý kiến như sau:
- Tại Điểm 2.1.1, Mục 2, Phần I Thông tư số 05/2002/TT-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 78/2001/NĐ-CP ngày 23 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi Tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định: “Trường hợp khi ký kết hợp đồng lao động nếu quy định thu nhập thực nhận không có thuế thu nhập (thu nhập NET) thì thu nhập không có thuế phải quy đổi thành thu nhập có thuế để làm căn cứ xác định thu nhập chịu thuế”.
- Tại Điểm 2.1.5, Mục 2, Phần I Thông tư số 05/2002/TT-BTC ngày 17 tháng 01 năm 2002 của Bộ Tài chính nêu trên, đã hướng dẫn cách tính Khoản thu nhập về tiền nhà khi xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân người lao động do các tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập chi trả hộ, được tính theo số thực tế chi trả hộ nhưng không vượt quá 15% số thu nhập về tiền lương, tiền công, tiền thù lao.
Theo ví dụ Công ty nêu tại công văn ngày 25 tháng 6 năm 2004 nói trên, nếu thu nhập thực nhận trong tháng (thu nhập NET) su khi trừ đi Khoản phụ cấp xa tổ quốc, số thu nhập còn lại là Khoản tiền lương, tiền công, tiền thù lao thì phương pháp tính thu nhập chịu thuế đối với tiền nhà của nhân viên nước ngoài của Công ty là đúng quy định. Từ ngày 01 tháng 7 năm 2004, việc tính thuế đối với người có thu nhập cao được thực hiện theo Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số Điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao số 14/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24 tháng 3 năm 2004 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các văn bản hướng dẫn thực hiện.
Tổng cục thuế trả lời để Công ty TNHH KPMG biết, thực hiện.
|
| KT.TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 2524 TCT/TNCN ngày 11/08/2004 của Tổng cục Thuế về việc xác định tiền nhà chịu thuế TNCN
- Số hiệu: 2524TCT/TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 11/08/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 11/08/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
