Giới thiệu về Công văn số 1988 TCT/DNK
Công văn số 1988 TCT/DNK được Tổng cục Thuế ban hành ngày 30/06/2004 nhằm hướng dẫn và giải quyết các vướng mắc liên quan đến hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào đối với hàng hóa xuất khẩu. Đây là văn bản hướng dẫn quan trọng giúp các doanh nghiệp xuất khẩu và cơ quan thuế địa phương thống nhất quy trình thực hiện, đảm bảo tính minh bạch và ngăn ngừa gian lận trong việc hoàn thuế.
Các quy định cốt lõi về hồ sơ hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng xuất khẩu
Theo nội dung hướng dẫn, để được khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng hóa xuất khẩu, cơ sở kinh doanh phải chuẩn bị đầy đủ các chứng từ, hồ sơ theo quy định pháp luật. Các chứng từ cốt lõi bao gồm:
- Hợp đồng xuất khẩu hàng hóa: Hợp đồng bán hàng hóa, gia công hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ ký kết với tổ chức, cá nhân nước ngoài phải đảm bảo tính pháp lý, quy định rõ ràng về số lượng, chủng loại, giá trị và phương thức thanh toán.
- Tờ khai hải quan: Tờ khai hải quan về hàng hóa xuất khẩu có xác nhận thực xuất của cơ quan hải quan cửa khẩu. Đây là chứng từ bắt buộc để chứng minh hàng hóa đã thực tế ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.
- Hóa đơn thương mại: Hóa đơn bán hàng hoặc hóa đơn xuất khẩu xuất cho khách hàng nước ngoài theo đúng quy định.
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng: Đây là điều kiện tiên quyết để được hoàn thuế. Tiền thanh toán hàng hóa xuất khẩu phải được chuyển từ tài khoản của khách hàng nước ngoài sang tài khoản của cơ sở xuất khẩu mở tại ngân hàng ở Việt Nam.
Hướng dẫn xử lý các trường hợp vướng mắc về chứng từ thanh toán
Công văn tập trung làm rõ phương thức xử lý đối với các trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc hoàn thiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng:
- Trường hợp thanh toán chậm trả: Đối với các hợp đồng xuất khẩu có thỏa thuận thanh toán chậm trả, doanh nghiệp phải xuất trình văn bản thỏa thuận chậm trả kèm theo hồ sơ. Cơ quan thuế sẽ kiểm tra và đối chiếu tiến độ thanh toán thực tế để xem xét hoàn thuế.
- Trường hợp thanh toán qua bên thứ ba: Việc thanh toán thông qua một bên thứ ba phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng xuất khẩu hoặc phụ lục hợp đồng. Chứng từ thanh toán phải thể hiện rõ dòng tiền đi từ bên thứ ba hợp pháp theo chỉ định.
- Xử lý khi thiếu chứng từ thanh toán: Các trường hợp không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng hoặc chứng từ không hợp lệ sẽ không đủ điều kiện để áp dụng thuế suất 0% và không được hoàn thuế GTGT đầu vào đối với lô hàng xuất khẩu đó.
Trách nhiệm của cơ quan thuế trong việc kiểm tra và giải quyết hồ sơ
Tổng cục Thuế yêu cầu các Cục Thuế địa phương nâng cao vai trò giám sát và kiểm tra tính xác thực của hồ sơ hoàn thuế:
- Tăng cường công tác hậu kiểm: Thực hiện kiểm tra, đối chiếu kỹ lưỡng giữa tờ khai hải quan, hợp đồng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng để phát hiện kịp thời các hành vi gian lận, quay vòng hóa đơn.
- Phối hợp liên ngành: Trong trường hợp có nghi ngờ về tính xác thực của chứng từ thanh toán hoặc tờ khai hải quan, cơ quan thuế cần chủ động phối hợp với ngân hàng thương mại và cơ quan hải quan cửa khẩu để xác minh thông tin trước khi ra quyết định hoàn thuế.
- Xử lý vi phạm: Nghiêm cấm các hành vi hợp thức hóa hồ sơ để trục lợi tiền hoàn thuế từ ngân sách nhà nước. Các trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật thuế và pháp luật hình sự tùy theo mức độ vi phạm.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1988 TCT/DNK | Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2004 |
Kính gửi: Cục thuế tỉnh Lào Cai
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 176/2004/HC-Cty ngày 14/6/2004 của Công ty TNHH SX HTD Bình Tiên (Biti’s) đề nghị được xem xét hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng xuất khẩu của Chi nhánh của Công ty tại Lào Cai. Qua nghiên cứu Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
1. Về hợp đồng kinh tế:
Tại Điều 11 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: “Hợp đồng kinh tế được ký kết bằng văn bản, tài liệu giao dịch: Công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng”.
Tại điểm 3 Điều 49 Luật Thương mại quy định: “Đối với loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó; điện báo, telex, fax, thư điện tử và các hình thức thông tin điện từ khác cũng được coi là hình thức văn bản.”
Căn cứ các quy định nêu trên thì đơn đặt hàng qua fax cũng được coi là hợp đồng kinh tế đã ký kết bằng văn bản và được chấp nhận trong hồ sơ hoàn thuế kèm theo hợp đồng chính thức được lập đầy đủ theo quy định về hợp đồng kinh tế.
2. Về hồ sơ hoàn thuế GTGT của Công ty TNHH SX HTD Bình Tiên:
Theo trình bày trong công văn thì hồ sơ hoàn thuế của Công ty TNHH SX HTD Bình Tiên đã đáp ứng đầy đủ các quy định về đối tượng và hồ sơ hoàn thuế quy định tại Mục D Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính và Mục V Thông tư số 82/2002/TT-BTC ngày 18/9/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi bổ sung một số nội dung của Thông tư số 122/2000/TT-BTC. Tuy nhiên Cục thuế vẫn chưa ra quyết định hoàn thuế vì lý do: Hoá đơn GTGT xuất trước ngày ký hợp đồng (trước 1 ngày).
Theo giải trình của Công ty thì sự việc lập hoá đơn trước là do chi nhánh công ty nhận được đơn đặt hàng của khách hàng Trung Quốc qua fax. Căn cứ bản fax đó bộ phận kế toán lập hoá đơn GTGT, còn hợp đồng do bộ phận giao hàng lập, nội dung thể hiện trên bản fax (tên, địa chỉ, khách hàng, số lượng, chủng loại hàng hoá...) phù hợp với tờ khai xuất khẩu và hoá đơn GTGT đã xuất.
Căn cứ quy định về hợp đồng kinh tế nêu tại điểm 1 công văn này thì bản fax đơn đặt hàng của khách hàng nước ngoài được xác định là một loại hợp đồng kinh tế bằng văn bản. Như vậy thì thời điểm lập hoá đơn GTGT và hợp đồng kinh tế không mâu thuẫn.
Do chi nhánh xuất trình thêm bản hợp đồng mới không cùng ngày với bản fax đơn đặt hàng và sau ngày lập hoá đơn, vì vậy, đề nghị Cục thuế kiểm tra: Chi nhánh Công ty có đầy đủ điều kiện về thủ tục hồ sơ theo quy định đối với hàng hoá xuất khẩu, xác định tính đúng đắn của hồ sơ từ đơn đặt hàng, hợp đồng kinh tế, phương thức thanh toán, tên khách hàng thanh toán để quyết định việc hoàn thuế cho chi nhánh của Công ty TNHH SX HTD Bình Tiên theo chế độ.
Đối với những hồ sơ hoàn thuế đối với hàng hoá xuất khẩu từ ngày 1/1/2004 thực hiện theo các quy định tại Thông tư số 120/2003/TT-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ Tài chính.
Đề nghị Cục thế hướng dẫn đơn vị bổ sung hồ sơ theo các quy định nêu trên và xem xét giải quyết hoàn thuế theo chế độ. Nếu có vướng mắc báo cáo Tổng cục Thuế bằng văn bản./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
- 1Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 do Hội đồng Nhà nước ban hành
- 2Luật Thương mại 1997
- 3Thông tư 122/2000/TT-BTC hướng dẫn Nghị định 79/2000/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế giá trị gia tăng do Bộ tài chính ban hành
- 4Thông tư 82/2002/TT-BTC sửa đổi Thông tư 122/2000/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 79/2000/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) do Bộ Tài chính ban hành
- 5Thông tư 120/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 158/2003/NĐ-CP thi hành Luật thuế giá trị gia tăng và Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi do Bộ Tài chính ban hành
Công văn số 1988 TCT/DNK ngày 30/06/2004 của Tổng cục thuế về việc hồ sơ hoàn thuế GTGT đầu vào đối với hàng xuất khẩu
- Số hiệu: 1988TCT/DNK
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 30/06/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Phạm Văn Huyến
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 30/06/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
