Tổng quan về Công văn số 1961/LĐTBXH-TL của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Công văn số 1961/LĐTBXH-TL là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành nhằm tháo gỡ các vướng mắc, đồng thời hướng dẫn chi tiết cho các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động về chế độ tiền lương. Văn bản tập trung vào việc chuẩn hóa quy trình xây dựng thang lương, bảng lương, áp dụng các hình thức trả lương và giải quyết quyền lợi cho người lao động trong các trường hợp đặc biệt.
Các nội dung hướng dẫn cốt lõi về chế độ tiền lương trong doanh nghiệp
1. Nguyên tắc xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động
Doanh nghiệp được quyền tự chủ trong việc thiết kế hệ thống thang lương, bảng lương để áp dụng trong nội bộ, tuy nhiên phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc pháp lý sau:
- Thang lương, bảng lương phải được xây dựng dựa trên chức danh, vị trí việc làm, mức độ phức tạp của công việc và yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ thuật của người lao động.
- Mức lương thấp nhất của công việc hoặc chức danh giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường không được phép thấp hơn mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố tại thời điểm áp dụng.
- Khi tiến hành xây dựng, sửa đổi hoặc bổ sung thang lương, bảng lương, người sử dụng lao động bắt buộc phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở (Ban chấp hành Công đoàn cơ sở) và phải công bố công khai tại nơi làm việc trước khi chính thức áp dụng.
2. Quy định về các hình thức và phương thức chi trả lương
Văn bản hướng dẫn doanh nghiệp linh hoạt lựa chọn các hình thức trả lương phù hợp với tính chất công việc và mô hình sản xuất, kinh doanh, bao gồm:
- Trả lương theo thời gian: Được áp dụng cho người lao động hưởng lương theo tháng, tuần, ngày hoặc giờ làm việc thực tế.
- Trả lương theo sản phẩm: Áp dụng cho người lao động hưởng lương căn cứ vào mức độ hoàn thành số lượng và chất lượng sản phẩm được giao theo định mức.
- Trả lương khoán: Áp dụng cho người lao động hưởng lương dựa trên khối lượng, chất lượng công việc và thời hạn phải hoàn thành công việc được giao.
- Hình thức trả lương phải được hai bên thỏa thuận rõ ràng trong hợp đồng lao động. Việc chi trả lương phải được thực hiện trực tiếp, đầy đủ và đúng hạn cho người lao động.
3. Hướng dẫn tính tiền lương làm thêm giờ và làm việc vào ban đêm
Để bảo đảm quyền lợi tối đa cho người lao động khi thực hiện tăng ca hoặc làm việc trong điều kiện đặc biệt, tiền lương được xác định như sau:
- Làm thêm giờ vào ngày thường: Người lao động được trả lương ít nhất bằng 150% mức lương giờ thực trả của công việc đang làm.
- Làm thêm giờ vào ngày nghỉ hằng tuần: Được hưởng mức lương ít nhất bằng 200% mức lương giờ thực trả.
- Làm thêm giờ vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương: Được hưởng mức lương ít nhất bằng 300% (chưa kể tiền lương ngày lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương đối với người lao động hưởng lương ngày).
- Làm việc vào ban đêm: Người lao động được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương thực trả theo công việc của ngày làm việc bình thường.
4. Phương án giải quyết tiền lương trong trường hợp ngừng việc
Trong trường hợp doanh nghiệp hoặc người lao động phải ngừng việc tạm thời, nguyên tắc chi trả lương được thực hiện như sau:
- Nếu ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động, người lao động được trả đủ tiền lương theo hợp đồng lao động đã giao kết.
- Nếu ngừng việc do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc do liên đới thì được trả lương theo mức do hai bên thỏa thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng.
- Nếu ngừng việc do sự cố khách quan (như thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm, hỏa hoạn hoặc vì lý do kinh tế), tiền lương ngừng việc do hai bên thỏa thuận nhưng phải bảo đảm tuân thủ các giới hạn tối thiểu theo quy định của pháp luật lao động.
Ý nghĩa thực tiễn của văn bản đối với quan hệ lao động
Công văn số 1961/LĐTBXH-TL là công cụ pháp lý hữu ích giúp doanh nghiệp chuẩn hóa quy chế trả lương nội bộ, hạn chế tối đa các tranh chấp lao động không đáng có liên quan đến thu nhập. Đồng thời, văn bản này cũng là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước về lao động tiến hành thanh tra, kiểm tra và giám sát việc thực thi pháp luật lao động tại các đơn vị sử dụng lao động trên cả nước.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ LAO ĐỘNG, | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1961/LĐTBXH-TL | Hà Nội, ngày 23 tháng 06 năm 2005 |
| Kính gửi: | Công đoàn Công ty Schlumberger
|
Trả lời công văn số 22/05-CĐSLB ngày 11/5/2005 của Công đoàn Công ty về việc ghi tại trích yếu, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:
1/ Ngày nghỉ hàng năm:
Theo quy định tại Điều 74, Điều 75 và Điều 76 của Bộ luật Lao động, đối với người lao động có đủ 12 tháng làm việc (không nhất thiết phải tính từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 dương lịch) tại một doanh nghiệp hoặc với một người sử dụng lao động thì có quyền được hưởng ngày nghỉ hàng năm. Người sử dụng lao động phải đảm bảo quyền lợi này (số ngày nghỉ hàng năm) cho người lao động, quy định lịch nghỉ hàng năm sau khi tham khảo ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở và phải thông báo trước cho mọi người trong doanh nghiệp. Ngày nghỉ hàng năm của năm nào phải được bố trí ngay trong năm đó, người sử dụng lao động không được cộng gộp số ngày nghỉ hàng năm của người lao động quá một năm, trừ trường hợp đối với người làm việc ở nơi xa xôi hẻo lánh đề nghị được gộp số ngày nghỉ của hai hoặc 3 năm theo quy định tại Khoản 2, Điều 76 của Bộ luật Lao động.
Việc người sử dụng lao động cộng gộp số ngày nghỉ hàng năm của người lao động không phải ở nơi xa xôi hẻo lánh là không đúng với quy định của Nhà nước. Vì vậy, từ nay trở đi Công ty phải bố trí thời gian nghỉ hàng năm cho người lao động theo đúng quy định. Số ngày đã cộng gộp (tính từ thời điểm này trở về trước) thì xử lý như sau:
- Trường hợp người sử dụng lao động không bố trí được cho người lao động nghỉ, thì ngoài 100% tiền lương người lao động được trả cho thời gian nghỉ được hưởng nguyên lương theo quy định tại Điều 74, Điều 75 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động ít nhất 200% tiền lương cho những ngày đi làm nói trên.
- Trường hợp người sử dụng lao động đã bố trí lịch nghỉ hàng năm nhưng người lao động có yêu cầu và tự nguyện đi làm vào những ngày này, thì người sử dụng lao động chỉ phải trả nguyên lương cho những ngày làm việc đó.
2) Ngày nghỉ bù:
- Đối với ngày nghỉ lễ trùng với ngày nghỉ hàng tuần mà người sử dụng lao động không bố trí nghỉ bù vào ngày tiếp theo liền kề như quy định của Nhà nước, thì phải bố trí nghỉ bù vào ngày tiếp theo, không được cộng dồn thời gian nghỉ bù.
- Đối với thời gian làm thêm giờ, nếu người sử dụng lao động chưa trả lương làm thêm giờ cho người lao động, thì phải bố trí nghỉ bù trong thời gian tiếp theo, không được cộng dồn thời gian nghỉ bù.
Thời gian nghỉ bù cộng dồn từ trước đến nay của hai trường hợp nêu trên thì người sử dụng lao động phải trả lương làm thêm giờ cho người lao động, mức trả theo hướng dẫn tại Điểm 2, Mục II Thông tư số 14/2003/TT-BLĐTBXH ngày 30/5/2003 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ về tiền lương đối với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam.
3/ Cách tính tiền lương ngày: đề nghị người sử dụng lao động thực hiện theo hướng dẫn tại Điểm c, Khoản 1, Điều 7 của Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31/12/2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trả lời để Công đòan Công ty được biết và tham gia ý kiến với người sử dụng lao động thực hiện đúng theo quy định của Nhà nước./.
| Nơi nhận | KT. BỘ TRƯỞNG |
- 1Bộ luật Lao động 1994
- 2Nghị định 114/2002/NĐ-CP Hướng dẫn Bộ luật lao động về tiền lương
- 3Công văn 456/LĐTBXH-TL của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn trả lương làm thêm giờ
- 4Thông tư 14/2003/TT-BLĐTBXH hướng dẫn Nghị định 114/2002/NĐ-CP về tiền lương đối với người lao động làm việc trong doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại Việt Nam do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành
Công văn số 1961/LĐTBXH-TL của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội về việc hướng dẫn trả lương trong DN
- Số hiệu: 1961/LĐTBXH-TL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 23/06/2005
- Nơi ban hành: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
- Người ký: Phạm Minh Huân
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/06/2005
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
