TÓM TẮT CÔNG VĂN SỐ 1758 TCT/DNNN VỀ HOÀN THUẾ GTGT ĐỐI VỚI HÀNG TÁI NHẬP KHẨU
Công văn số 1758 TCT/DNNN do Tổng cục Thuế ban hành ngày 11/06/2004 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ thuế quan trọng, giải quyết các vướng mắc phát sinh liên quan đến chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với trường hợp hàng hóa đã xuất khẩu nhưng sau đó phải tái nhập khẩu trở lại Việt Nam.
1. Đối tượng áp dụng và bối cảnh phát sinh
Văn bản hướng dẫn xử lý thuế đối với các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài, nhưng vì các lý do thương mại hoặc kỹ thuật (như hàng hóa không đạt tiêu chuẩn chất lượng, sai quy cách theo hợp đồng, hoặc đối tác nước ngoài từ chối nhận hàng) dẫn đến việc phải tái nhập khẩu số hàng hóa này quay trở lại thị trường nội địa.
2. Nguyên tắc xử lý thuế GTGT đối với hàng hóa tái nhập khẩu
- Nghĩa vụ thuế khi tái nhập khẩu: Khi doanh nghiệp thực hiện thủ tục tái nhập khẩu hàng hóa đã xuất khẩu trước đó, doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ kê khai và nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu theo đúng quy định pháp luật tại thời điểm tái nhập khẩu.
- Khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào: Số thuế GTGT khâu nhập khẩu đã nộp đối với hàng tái nhập khẩu sẽ được xem xét khấu trừ hoặc hoàn thuế nếu doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chứng từ, hóa đơn hợp lệ và phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT.
- Xử lý thuế đối với hàng tái chế, sửa chữa: Trường hợp hàng hóa tái nhập khẩu để sửa chữa, tái chế sau đó tiếp tục xuất khẩu, doanh nghiệp cần theo dõi riêng biệt các chi phí phát sinh và thực hiện thủ tục hoàn thuế theo quy định đối với hàng hóa tạm nhập - tái xuất hoặc hàng hóa gia công, sản xuất xuất khẩu.
3. Yêu cầu về hồ sơ và thủ tục hành chính
Để được ghi nhận khấu trừ hoặc hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa tái nhập khẩu, doanh nghiệp bắt buộc phải hoàn thiện và xuất trình bộ hồ sơ pháp lý chặt chẽ bao gồm:
- Tờ khai hải quan hàng hóa xuất khẩu lần đầu và Tờ khai hải quan hàng hóa tái nhập khẩu đã hoàn thành thủ tục thông quan.
- Văn bản, thỏa thuận hoặc thông báo của đối tác nước ngoài về việc trả lại hàng hóa, trong đó nêu rõ lý do trả hàng.
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng (nếu có) và chứng từ nộp thuế GTGT khâu nhập khẩu tại cơ quan hải quan.
- Hóa đơn, chứng từ liên quan đến các chi phí phát sinh trong quá trình vận chuyển, lưu kho, sửa chữa hàng hóa tái nhập khẩu.
4. Ý nghĩa thực tiễn của văn bản
Công văn số 1758 TCT/DNNN giúp tháo gỡ khó khăn tài chính cho các doanh nghiệp xuất khẩu gặp sự cố về đơn hàng, tránh tình trạng đánh thuế trùng lặp đối với cùng một lượng hàng hóa, đồng thời tạo hành lang pháp lý rõ ràng để cơ quan thuế địa phương thực hiện thống nhất việc kiểm tra, giám sát và hoàn thuế đúng đối tượng, đúng quy định.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 1758 TCT/DNNN | Hà Nội, ngày 11 tháng 6 năm 2004 |
Kính gửi: Tổng Công ty lương thực miền Bắc
Trả lời công văn số 199 TCT-KTĐN-CV ngày 15 tháng 4 năm 2004 của Tổng Công ty lương thực miền Bắc về việc hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với hàng tái nhập khẩu, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Vấn đề này, Bộ Tài chính đã có công văn số 11995 TC/TCT ngày 12 tháng 12 năm 2001 gửi Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thuế đã có công văn số 4193 TCT/NV7 ngày 21 tháng 11 năm 2003 trả lời Tổng Công ty lương thực miền Bắc.
Đối với số gạo xuất khẩu bị trả lại, khi tái nhập khẩu Chi nhánh Tổng Công ty lương thực miền Bắc tại thành phố Hồ Chí Minh đã kê khai nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu thì Chi nhánh được kê khai khấu trừ số thuế GTGT đã nộp vào số thuế GTGT phải nộp của kỳ sau. Tuy nhiên, trong thời gian từ tháng 4/2000 đến tháng 9/2002, Chi nhánh đã không kê khai để được khấu trừ hoặc hoàn lại số thuế GTGT đã nộp nêu trên. Đến nay, Chi nhánh chỉ làm nhiệm vụ giao nhận kho vận đối với hàng hoá xuất nhập khẩu, không có chức năng kinh doanh nên không thực hiện việc kê khai và khấu trừ thuế GTGT tại thành phố Hồ Chí Minh.
Điểm 2 - Mục II - Phần C - Thông tư số 122/2000/TT-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ Tài chính quy định: “Các cơ sở hạch toán phụ thuộc ở khác địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) nơi đóng trụ sở chính của Công ty nếu không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu, cơ sở không hạch toán được đầy đủ thuế đầu vào thì thực hiện kê khai, nộp thuế tập trung tại Văn phòng trụ sở chính của Công ty”.
Căn cứ quy định trên đây thì việc kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với các chứng từ mà Chi nhánh đã kê khai nộp thuế GTGT đối với lô hàng gạo nhập khẩu trở lại được thực hiện tại Văn phòng Tổng Công ty tại Hà Nội.
Tổng cục Thuế thông báo để Tổng Công ty lương thực miền Bắc biết và liên hệ với các cơ quan thuế địa phương để thực hiện.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG TỔNG CỤC THUẾ |
Công văn số 1758 TCT/DNNN ngày 11/06/2004 của Tổng cục thuế về việc hoàn thuế GTGT đối với hàng tái nhập khẩu
- Số hiệu: 1758TCT/DNNN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 11/06/2004
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Nguyễn Thị Cúc
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 11/06/2004
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
