Tóm tắt Công văn 8580/CT-TTHT năm 2012 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Công văn 8580/CT-TTHT do Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện đúng quy định về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt (thanh toán qua ngân hàng). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để doanh nghiệp xác định điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
1. Nguyên tắc chung về chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Theo quy định pháp luật về thuế, để được thừa nhận là thanh toán qua ngân hàng đối với các giao dịch mua bán có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện cơ bản sau:
- Có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán.
- Tài khoản giao dịch của cả bên mua và bên bán phải là tài khoản hợp pháp, đã được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp theo đúng quy định.
- Các chứng từ thanh toán hợp lệ bao gồm: giấy báo Nợ, giấy báo Có, ủy nhiệm chi hoặc các chứng từ chuyển tiền khác do ngân hàng cung cấp.
2. Quy định đối với các trường hợp thanh toán cụ thể
Công văn hướng dẫn chi tiết một số trường hợp thanh toán thực tế tại doanh nghiệp nhằm tránh các sai sót khi thực hiện nghĩa vụ thuế:
- Thanh toán vào tài khoản cá nhân: Trường hợp bên mua chuyển tiền từ tài khoản của doanh nghiệp mình vào tài khoản cá nhân của người đại diện pháp luật, giám đốc hoặc nhân viên của bên bán thì không được coi là chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ. Do đó, doanh nghiệp mua hàng sẽ không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và không được tính vào chi phí hợp lý đối với phần giá trị thanh toán này.
- Thanh toán bù trừ công nợ: Việc thanh toán bù trừ công nợ giữa hai bên phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bán hoặc văn bản thỏa thuận. Sau khi bù trừ, nếu phần giá trị còn lại từ 20 triệu đồng trở lên thì bắt buộc phải thực hiện thanh toán qua ngân hàng mới đủ điều kiện khấu trừ thuế và tính chi phí được trừ.
- Ủy quyền thanh toán cho bên thứ ba: Trường hợp thanh toán qua bên thứ ba được ủy quyền phải được quy định cụ thể trong hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng bằng văn bản, đồng thời bên thứ ba phải là một pháp nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật.
3. Hệ quả pháp lý khi chứng từ thanh toán không hợp lệ
Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý các rủi ro thuế phát sinh khi chứng từ thanh toán không đáp ứng điều kiện quy định:
- Không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với các hóa đơn có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên nếu thanh toán bằng tiền mặt hoặc thanh toán qua tài khoản cá nhân không đúng quy định.
- Bị loại khỏi chi phí được trừ khi tính thuế TNDN đối với phần chi phí mua hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng hợp lệ, dẫn đến nguy cơ bị truy thu thuế và xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Để tìm hiểu thêm các văn bản hướng dẫn chi tiết khác của Cục Thuế, quý khách hàng có thể truy cập hệ thống tra cứu tại hethongphapluat.com.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 8580/CT-TTHT | TP.Hồ Chí Minh, ngày 07 tháng 11 năm 2012 |
Kính gửi: Công ty TNHH Castrol BP Petco - Đ/chỉ: 17 Lê Duẩn – Quận 1- TP.HCM
Mã số thuế: 0300695803
Trả lời văn thư số 11/CBPP-KT ngày 01/10/2012 của Công ty về việc thanh toán qua ngân hàng, Cục thuế TP có ý kiến như sau:
Căn cứ khoản 2a điều 15 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/01/2012 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về thuế giá trị gia tăng (GTGT) quy định chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
“Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế).
Các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán hoặc chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành không đủ điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ hai mươi triệu đồng trở lên.”
Trường hợp Công ty theo trình bày mua hàng hóa, dịch vụ có giá trị thanh toán trên hai mươi triệu đồng trở lên nếu thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ tín dụng của Công ty để chuyển tiền từ tài khoản của Công ty tại ngân hàng vào tài khoản của nhà cung cấp mở tại ngân hàng thì được coi là thanh toán qua ngân hàng.
Trường hợp thanh toán bằng thẻ tín dụng của nhân viên Công ty thì không được xác định là thanh toán qua ngân hàng.
Cục thuế TP thông báo Công ty biết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này.
|
| KT. CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 6810/CT-TTHT về chứng từ thanh toán qua Ngân hàng do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- 2Thông tư 06/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định 123/2008/NĐ-CP và 121/2011/NĐ-CP do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 1344/TCT-KK năm 2015 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 8580/CT-TTHT năm 2012 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Cục thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- Số hiệu: 8580/CT-TTHT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 07/11/2012
- Nơi ban hành: Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh
- Người ký: Trần Thị Lệ Nga
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 07/11/2012
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
