Giới thiệu về Công văn 6159/CT-TTHT
Công văn 6159/CT-TTHT do Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ban hành nhằm hướng dẫn các doanh nghiệp và người nộp thuế thực hiện đúng quy định về việc khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào. Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ các điều kiện, thủ tục và các trường hợp đặc biệt liên quan đến khấu trừ thuế, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí và tránh các rủi ro pháp lý về thuế.
Các nguyên tắc khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào cốt lõi
Theo hướng dẫn, việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
- Khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh: Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ, kể cả thuế GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hóa bị tổn thất.
- Phân bổ thuế GTGT đầu vào: Trường hợp hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT. Doanh nghiệp phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ.
- Khấu trừ trong một số trường hợp đặc biệt: Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ hình thành tài sản cố định như nhà ăn giữa ca, nhà nghỉ giữa ca, nhà thay đồ, nhà vệ sinh, bể nước, nhà để xe thuộc khu vực doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh được khấu trừ toàn bộ.
Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
Để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, doanh nghiệp cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện nghiêm ngặt sau đây:
- Có hóa đơn GTGT hợp pháp: Doanh nghiệp phải có hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa, dịch vụ hợp pháp hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu, chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài.
- Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt: Đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào có hóa đơn từ 20 triệu đồng trở lên (giá đã bao gồm thuế GTGT), doanh nghiệp bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các trường hợp đặc biệt theo quy định của pháp luật.
- Yêu cầu về chứng từ thanh toán qua ngân hàng: Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
Những lưu ý quan trọng đối với doanh nghiệp
Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh khuyến nghị các doanh nghiệp cần lưu ý một số điểm sau để đảm bảo quyền lợi khấu trừ thuế:
- Thời điểm kê khai, khấu trừ: Thuế GTGT đầu vào phát sinh trong kỳ nào thì được kê khai, khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của kỳ đó. Trường hợp doanh nghiệp phát hiện sai sót, bỏ sót thì được kê khai, khấu trừ bổ sung trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định thanh tra, kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế.
- Kiểm tra tính hợp lệ của hóa đơn: Doanh nghiệp cần chủ động tra cứu, đối chiếu thông tin hóa đơn của nhà cung cấp trên hệ thống của cơ quan thuế để đảm bảo hóa đơn được sử dụng là hợp pháp, tránh trường hợp sử dụng hóa đơn của các doanh nghiệp bỏ trốn hoặc ngừng hoạt động.
- Hoàn thiện chứng từ thanh toán: Đối với các giao dịch mua hàng trả chậm, trả góp có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên, doanh nghiệp phải có hợp đồng mua bán bằng văn bản và chứng từ thanh toán qua ngân hàng theo tiến độ thanh toán trên hợp đồng.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| TỔNG CỤC THUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 6159/CT-TTHT | TP.HCM, ngày 28 tháng 7 năm 2011 |
| Kính gửi: | Công ty TNHH dịch vu quản lý BĐS ALLGREEN |
Trả lời văn bản ngày 21/06/2011 của Công ty về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để được khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT), Cục thuế TP có ý kiến như sau:
- Căn cứ điểm 1.3.b mục II Phần B Thông tư số 129/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT quy định điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào:
“Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.
Hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn trên hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ. Đối với hóa đơn này cơ sở kinh doanh kê khai vào mục riêng trong bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào
Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua trên hai mươi triệu đồng, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào.
Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hoá không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.”
- Căn cứ điểm 2.c công văn số 10220/BTC-TCT ngày 20/7/2009 của Bộ Tài chính hướng dẫn về điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ, hoàn thuế GTGT:
“Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán ủy quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng thì việc thanh toán theo ủy quyền phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật”
- Căn cứ công văn số 2424/TCT-CS ngày 13/07/2011 của Tổng cục thuế hướng dẫn về điều kiện thanh toán qua ngân hàng.
Căn cứ các hướng dẫn nêu trên,
Trường hợp Công ty ký hợp đồng nhận cung cấp dịch vụ, việc thanh toán được Công ty ủy quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng, việc ủy quyền thể hiện tại phụ lục hợp đồng thì cũng được coi là thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Trường hợp Công ty mua hàng hoá trả chậm, thời điểm thanh toán trả chậm được quy định cụ thể tại hợp đồng ký kết ban đầu, thì Công ty căn cứ hoá đơn GTGT của người bán để kê khai khấu trừ thuế GTGT đầu vào, nếu đến hạn thanh toán theo hợp đồng mà chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì Công ty phải điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã khai khấu trừ trước đây, số thuế GTGT không được khấu trừ được hạch toán vào chi phí theo quy định.
Cục Thuế TP thông báo Công ty biết để thực hiện theo đúng quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đã được trích dẫn tại văn bản này.
|
Nơi nhận: | TUQ. CỤC TRƯỞNG |
- 1Thông tư 129/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng và Nghị định 123/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 2Công văn số 10220/BTC-TCT về việc điều kiện chứng từ thanh toán qua ngân hàng để khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 2424/TCT-CS về điều kiện áp dụng thuế suất thuế giá trị gia tăng 0% do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 3954/CT-TTHT về khấu trừ thuế giá trị gia tăng do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
Công văn 6159/CT-TTHT về khấu trừ thuế giá trị gia tăng do Cục thuế thành phố Hồ Chí Minh ban hành
- Số hiệu: 6159/CT-TTHT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 28/07/2011
- Nơi ban hành: Cục thuế TP Hồ Chí Minh
- Người ký: Trần Thị Lệ Nga
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 28/07/2011
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
