Công văn số 5319/TCHQ-GSQL do Tổng cục Hải quan ban hành hướng dẫn về việc xử lý trường hợp mã số HS trên Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) Mẫu D khác biệt so với mã số HS do cơ quan hải quan phân loại khi làm thủ tục nhập khẩu thực tế.
Phạm vi và đối tượng áp dụng
Văn bản này áp dụng đối với các cơ quan hải quan địa phương, công chức hải quan làm nhiệm vụ kiểm tra, áp mã hàng hóa và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu có sử dụng C/O Form D trong khuôn khổ Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA).
Nguyên tắc xử lý khi có sự khác biệt mã số HS
- Sự khác biệt về mã số HS trên C/O Form D và mã số HS do cơ quan hải quan nước nhập khẩu xác định không phải là lý do tự động bác bỏ tính hợp lệ của C/O.
- Cơ quan hải quan chấp nhận C/O Form D nếu hàng hóa nhập khẩu thực tế được xác định là cùng một loại hàng hóa được mô tả trên C/O và việc khác biệt mã số HS không làm thay đổi bản chất xuất xứ của hàng hóa.
Điều kiện để chấp nhận C/O Form D có sự khác biệt mã số HS
- Mô tả hàng hóa trên C/O phải hoàn toàn phù hợp với thực tế hàng hóa nhập khẩu.
- Tiêu chí xuất xứ ghi trên C/O vẫn đảm bảo đáp ứng quy định của Hiệp định ATIGA đối với mã số HS do cơ quan hải quan phân loại lại.
- Không có nghi ngờ nào khác về tính xác thực và tính hợp pháp của chứng từ xuất xứ.
Quy trình xử lý của cơ quan hải quan
- Trường hợp sự khác biệt mã số HS không ảnh hưởng đến việc xác định xuất xứ: Công chức hải quan thực hiện thông quan hàng hóa và áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt theo quy định.
- Trường hợp sự khác biệt mã số HS dẫn đến việc thay đổi tiêu chí xuất xứ hoặc gây nghi ngờ về tính hợp lệ của xuất xứ: Cơ quan hải quan tiến hành thủ tục xác minh xuất xứ theo quy định tại Hiệp định ATIGA và các văn bản hướng dẫn liên quan. Trong thời gian chờ kết quả xác minh, hàng hóa được giải phóng nhưng không được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt ngay mà phải áp dụng mức thuế suất thông thường hoặc MFN.
Hiệu lực thi hành
Công văn này có hiệu lực hướng dẫn ngay từ thời điểm ban hành, giúp thống nhất quy trình nghiệp vụ hải quan trên toàn quốc, giảm thiểu vướng mắc cho doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục thông quan hàng hóa nhập khẩu từ các nước ASEAN.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5319/TCHQ-GSQL | Hà Nội , ngày 23 tháng 10 năm 2003 |
CÔNG VĂN
CỦA BỘ TÀI CHÍNH - TỔNG CỤC HẢI QUAN SỐ 5319/TCHQ-GSQL NGÀY 23 THÁNG 10 NĂM 2003 VỀ VIỆC MÃ SỐ HS TRÊN C/O FORM D KHÁC VỚI MÃ SỐ DO HẢI QUAN PHÂN LOẠI ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU THỰC TẾ
Kính gửi: Cục Hải quan các tỉnh, thành phố
Tổng cục Hải quan nhận được phản ánh của Vụ Hợp tác Quốc tế - Bộ Tài chính tại Công văn số 10219/TC-HTQT ngày 02/10/2003 về việc một số đơn vị hải quan không chấp nhận C/O mẫu D khi hải quan áp mã hàng nhập khẩu thực tế khác với mã HS ghi trên C/O do nước xuất khẩu phát hành. Để giải quyết vướng mắc này, Tổng cục Hải quan hướng dẫn thực hiện thống nhất như sau:
Theo quy định tại Thông tư số 85/2003/TT-BTC ngày 29/8/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện việc phân loại hàng hoá theo danh mục hàng hóa XK, NK và biểu thuế NK ưu đãi, biểu thuế XK, thì việc phân loại hàng hóa phải căn cứ vào thực tế hàng hóa và danh mục hàng hóa XK, NK của Việt Nam; biểu thuế NK, biểu thuế XK và các tài liệu kèm theo. Do vậy mỗi mặt hàng sau khi được phân loại phải có mã số đầy đủ là 8 chữ số và chỉ được xếp vào một mã số duy nhất theo danh mục hàng hóa XK, NK của Việt Nam.
Các mã HS do cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu là thành viên ASEAN phát hành, thể hiện trên C/O mẫu D hiện nay còn có sự chưa thật thống nhất trong phân loại giữa các nước ASEAN đối với một số mặt hàng cụ thể nên mã HS ghi trên C/O chỉ được sử dụng để các Chi cục Hải quan tham khảo khi phân loại hàng hóa nhập khẩu. Vì vậy, khi có sự khác biệt giữa mã HS trên giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D do cơ quan thẩm quyền của nước xuất khẩu phát hành và mã HS do hải quan phân loại trong quá trình làm thủ tục hàng hóa NK thì riêng về xác định xuất xứ hàng hóa, hải quan chưa coi đó là lý do để từ chối tính hợp lệ và hiệu lực của giấy chứng nhận xuất xứ mẫu D nếu như lô hàng đáp ứng đầy đủ điều kiện quy định tại điểm I Thông tư 64/2003/TT-BTC ngày 01/7/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn NĐ 78/2003/NĐ-CP ngày 01/7/2003 của Chính phủ và cơ quan hải quan không có cơ sở chứng minh lô hàng gian lận về xuất xứ.
Tổng cục Hải quan hướng dẫn để Cục Hải quan các tỉnh, thành phố thực hiện.
|
| Vũ Ngọc Anh (Đã ký) |
- 1Thông tư 85/2003/TT-BTC hướng dẫn phân loại hàng hoá theo Danh mục hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, Biểu thuế xuất khẩu do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 64/2003/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 78/2003/NĐ-CP ban hành Danh mục hàng hoá và thuế suất của Việt Nam để thực hiện Hiệp định về Ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) của các nước ASEAN cho các năm 2003-2006 do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 881/GSQL-TH năm 2016 vướng mắc mã số HS trên C/O do Cục Giám sát quản lý về Hải quan ban hành
Công văn 5319/TCHQ-GSQL của Tổng cục Hải quan về việc mã số HS trên C/O form D khác với mã số do hải quan phân loại đơn vị hàng hoá nhập khẩu thực tế
- Số hiệu: 5319/TCHQ-GSQL
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 23/10/2003
- Nơi ban hành: Tổng cục Hải quan
- Người ký: Vũ Ngọc Anh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 23/10/2003
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
