Giới thiệu về Công văn 5228/NHNN-CSTT năm 2019
Công văn 5228/NHNN-CSTT được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành nhằm cảnh báo và chấn chỉnh các hoạt động liên quan đến cho vay ngang hàng (Peer-to-Peer Lending - P2P Lending) tại Việt Nam. Trong bối cảnh công nghệ tài chính (Fintech) phát triển nhanh chóng, hoạt động cho vay ngang hàng đã xuất hiện nhiều mô hình biến tướng, tiềm ẩn rủi ro lớn cho hệ thống tài chính, an ninh tiền tệ và trật tự an toàn xã hội. Văn bản này đưa ra các chỉ đạo, khuyến nghị nghiêm ngặt đối với các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Các rủi ro cốt lõi của hoạt động cho vay ngang hàng được nhận diện
Ngân hàng Nhà nước đã chỉ rõ những rủi ro và hệ lụy tiêu cực từ hoạt động P2P Lending tự phát, chưa được pháp luật điều chỉnh đầy đủ tại Việt Nam:
- Rủi ro pháp lý và biến tướng hoạt động: Một số công ty P2P Lending quảng cáo sai sự thật về cam kết bảo toàn vốn, hứa hẹn lợi nhuận cao phi thực tế để lừa dối người dân; thực hiện các hoạt động huy động vốn trái phép hoặc cung cấp dịch vụ môi giới tài chính khi chưa được cấp phép.
- Rủi ro tín dụng đen và cho vay nặng lãi: Nhiều mô hình P2P Lending thực chất là vỏ bọc cho hoạt động "tín dụng đen", áp dụng mức lãi suất và phí dịch vụ quá cao, sử dụng các biện pháp đòi nợ mang tính cưỡng bức, đe dọa, gây mất an ninh trật tự xã hội.
- Rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố: Do tính chất giao dịch trực tuyến, ẩn danh hoặc thiếu kiểm soát thông tin khách hàng một cách chặt chẽ, các nền tảng này dễ bị lợi dụng cho các hành vi rửa tiền, trốn thuế hoặc tài trợ cho các hoạt động bất hợp pháp.
- Rủi ro bảo mật thông tin: Việc thu thập, lưu trữ và sử dụng thông tin cá nhân của khách hàng không được bảo đảm an toàn, dễ dẫn đến tình trạng rò rỉ dữ liệu, xâm phạm quyền riêng tư của người tiêu dùng.
Yêu cầu và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước đối với các Tổ chức tín dụng
Để hạn chế tối đa rủi ro phát sinh từ hoạt động cho vay ngang hàng đối với hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện nghiêm túc các nội dung sau:
- Thận trọng trong quan hệ hợp tác: Các tổ chức tín dụng phải nghiên cứu kỹ lưỡng, đánh giá toàn diện các rủi ro trước khi thiết lập quan hệ hợp tác với các công ty P2P Lending. Việc hợp tác phải đảm bảo an toàn hoạt động và không làm ảnh hưởng đến uy tín của chính tổ chức tín dụng.
- Nghiêm cấm cung cấp bảo lãnh và tín dụng sai quy định: Các tổ chức tín dụng không được cam kết bảo lãnh, bảo đảm cho các khoản vay được thực hiện qua nền tảng P2P Lending; không được cấp tín dụng cho các công ty P2P Lending để các công ty này thực hiện hoạt động cho vay lại.
- Kiểm soát chặt chẽ tài khoản thanh toán: Tăng cường giám sát, kiểm tra các tài khoản thanh toán của các công ty P2P Lending mở tại ngân hàng. Đảm bảo các tài khoản này chỉ được sử dụng đúng mục đích thanh toán, trung gian thanh toán, không được lạm dụng để huy động vốn hoặc thực hiện các giao dịch bất hợp pháp.
- Tuân thủ quy định về phòng, chống rửa tiền: Áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp nhận biết khách hàng (KYC), giám sát giao dịch đặc biệt đối với các tài khoản liên quan đến hoạt động cho vay ngang hàng nhằm phát hiện và báo cáo kịp thời các giao dịch đáng ngờ theo quy định của pháp luật về phòng, chống rửa tiền.
- Tuyên truyền và cảnh báo khách hàng: Chủ động thông tin, khuyến cáo khách hàng về các rủi ro khi tham gia vào các hoạt động cho vay ngang hàng không rõ nguồn gốc hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật.
Định hướng quản lý và khuyến nghị đối với người dân
Thông qua Công văn 5228/NHNN-CSTT, Ngân hàng Nhà nước cũng gửi đi thông điệp khuyến nghị mạnh mẽ:
- Đối với người dân và doanh nghiệp: Cần hết sức thận trọng khi tham gia các nền tảng cho vay ngang hàng với vai trò là người cho vay (nhà đầu tư) hoặc người đi vay. Người dân nên tìm đến các tổ chức tín dụng chính thống đã được cấp phép để thực hiện các giao dịch tài chính an toàn.
- Đối với cơ quan quản lý: NHNN đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan để nghiên cứu, xây dựng khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) đối với hoạt động Fintech, bao gồm cả P2P Lending, nhằm đưa hoạt động này vào khuôn khổ quản lý lành mạnh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo nhưng vẫn bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5228/NHNN-CSTT | Hà Nội, ngày 08 tháng 7 năm 2019 |
Kính gửi: Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Thời gian qua, việc ứng dụng thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong lĩnh vực công nghệ tài chính (Fintech) trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng đã cho ra đời nhiều sản phẩm, dịch vụ mới, trong đó có ứng dụng cho vay ngang hàng (sau đây gọi là P2P Lending). Liên quan đến lĩnh vực này, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi là NHNN) đề nghị các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (sau đây gọi là TCTD) lưu ý một số vấn đề có liên quan như sau:
1. Hoạt động P2P Lending được thiết kế và xây dựng trên nền tảng công nghệ số, kết nối trực tiếp người đi vay với người cho vay (nhà đầu tư) mà không thông qua trung gian tài chính. Theo đó, toàn bộ hoạt động vay, trả nợ (gốc, lãi) giữa người đi vay và người cho vay được nền tảng giao dịch trực tuyến của công ty vận hành nền tảng (sau đây gọi là công ty P2P Lending) ghi nhận và lưu trữ bằng các bản ghi điện tử, số hóa trên hệ thống cơ sở dữ liệu của công ty P2P Lending, được đăng tải cho khách hàng đăng ký tham gia nền tảng truy cập. Tại Việt Nam một số công ty đăng ký ngành nghề kinh doanh là tư vấn tài chính, môi giới tài chính và tự giới thiệu là các công ty P2P Lending cung cấp dịch vụ kết nối nhà đầu tư và người đi vay; tuy nhiên pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có quy định về hoạt động P2P Lending.
2. Với đặc thù nêu trên, hoạt động P2P Lending có thể góp phần hỗ trợ phổ cập tài chính, mở rộng khả năng và tạo thêm kênh tiếp cận nguồn lực tài chính, cách thức cho vay đối với nền kinh tế nhất là đối với các đối tượng yếu thế trong xã hội (có khả năng tiếp cận internet); qua đó có thể góp phần đẩy lùi tình trạng “tín dụng đen”. Tuy nhiên, hoạt động P2P Lending cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro (rủi ro cho vay, rủi ro thông tin, rủi ro phòng chống rửa tiền, rủi ro an ninh mạng...) có thể tác động bất lợi, bất ổn đến an sinh xã hội. Cụ thể:
2.1. Một số công ty P2P Lending lợi dụng việc thiếu thông tin, thiếu hiểu biết của người dân để quảng cáo và đưa ra thông tin không rõ ràng, sai lệch dẫn đến nhà đầu tư hiểu nhầm về việc các hoạt động đầu tư/cho vay qua các nền tảng của công ty P2P Lending đều được bảo hiểm rủi ro.
2.2. Hoạt động P2P Lending mới được hình thành và phát triển gần đây, các nền tảng giao dịch trực tuyến của công ty P2P Lending chưa được cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá nên có thể tồn tại nguy cơ bị tấn công mạng đánh cắp thông tin gây thiệt hại cho các bên tham gia. Một số công ty P2P Lending là kênh phân phối, tìm kiếm khách hàng cho công ty tài chính, công ty cầm đồ hoặc công ty cầm đồ hợp tác với công ty công nghệ xây dựng nền tảng giao dịch trực tuyến để công ty cầm đồ tìm kiếm người đi vay và thực hiện cho vay; trong đó, một số công ty cầm đồ sử dụng nguồn tiền từ các khoản vay nước ngoài hoặc các khoản vay từ cá nhân, tổ chức trong nước để cho vay lại. Một số đối tượng có thể lợi dụng mô hình P2P Lending thực hiện hành vi bất hợp pháp (hoạt động tín dụng đen, cho vay nặng lãi, cho vay cầm đồ biến tướng, hoạt động tài chính đa cấp...), đưa ra quảng cáo sai sự thật, hứa hẹn lợi nhuận cao, lãi suất cạnh tranh để lừa đảo, chiếm dụng vốn của người dân; tác động tiêu cực đến cuộc sống của người dân, gây bất ổn đến an ninh kinh tế và ổn định xã hội. Trong một số trường hợp, công ty P2P Lending và công ty cầm đồ có dấu hiệu vi phạm Điều 8 Luật các TCTD năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) khi thực hiện hoạt động ngân hàng dưới hình thức cấp tín dụng.1
3. Từ nội dung nêu trên, để đảm bảo an toàn hệ thống, NHNN khuyến nghị TCTD:
3.1. Nghiên cứu, tìm hiểu, nắm rõ các rủi ro phát sinh từ hoạt động P2P Lending để hướng dẫn, thông báo trong nội bộ TCTD (bao gồm cả các công ty con, công ty thành viên của TCTD) về các rủi ro tiềm ẩn của hoạt động P2P Lending, bao gồm rủi ro pháp lý và các rủi ro khác phát sinh từ hoạt động P2P Lending trong bối cảnh pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có khung pháp lý hoàn chỉnh điều chỉnh hoạt động P2P Lending; để từ đó thường xuyên rà soát quy trình, mô hình tổ chức, vận hành, quản trị nội bộ... của TCTD nhằm phòng ngừa các rủi ro có thể phát sinh.
3.2. Thận trọng trong việc ký kết và thực hiện các thỏa thuận hợp tác với các công ty P2P Lending để đảm bảo việc thỏa thuận, ký kết, thực hiện hợp đồng hợp tác giữa TCTD với các công ty P2P Lending đúng quy định pháp luật, không ảnh hưởng đến hoạt động, uy tín của TCTD, cũng như uy tín, an toàn của hệ thống ngân hàng; qua đó đảm bảo an toàn hệ thống tài chính, ngân hàng, trật tự an ninh xã hội.
3.3. Trong quá trình giao dịch, hợp tác với các công ty P2P Lending, TCTD xem xét đề nghị các công ty P2P Lending công bố đầy đủ, minh bạch, trung thực các thông tin về nội dung hợp tác, giao dịch giữa công ty P2P Lending với TCTD trong tất cả các thông điệp và phương tiện quảng cáo, truyền thông, bán hàng mà công ty P2P Lending truyền tải đến người tiêu dùng và các bên có liên quan. TCTD thường xuyên theo dõi việc công bố thông tin về quan hệ hợp tác giữa công ty P2P Lending với TCTD để kịp thời phát hiện thông tin được công ty P2P Lending công bố không chính xác, không đầy đủ, có thể gây tổn hại cho người tiêu dùng và các bên có liên quan (nếu có) để có giải pháp xử lý phù hợp.
3.4. Đảm bảo việc hợp tác, kết nối, giao dịch giữa TCTD (bao gồm cả các công ty con, công ty thành viên của TCTD) với các công ty P2P Lending an toàn, hiệu quả, bảo vệ được quyền lợi hợp pháp của TCTD và khách hàng, tuân thủ đúng các quy định của pháp luật có liên quan.
NHNN thông báo để TCTD biết, thực hiện./.
|
| KT. THỐNG ĐỐC |
1 Điều 8 Luật các TCTD quy định "1. Tổ chức có đủ điều kiện theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan được NHNN cấp Giấy phép thì được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng tại Việt Nam. 2. Nghiêm cấm cá nhân, tổ chức không phải là TCTD thực hiện hoạt động ngân hàng, trừ giao dịch ký quỹ, giao dịch mua bán lại chứng khoán của công ty chứng khoán".
- 1Công văn số 565/CV-NHNN1 của Ngân hàng Nhà nước về việc thu phí, hoa hồng...trong hoạt động cho vay của TCTD đối với KH
- 2Thông tư 18/2016/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 21/2012/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay; đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 3Thông tư 36/2018/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay để đầu tư ra nước ngoài của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 4Thông tư 06/2023/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 1Công văn số 565/CV-NHNN1 của Ngân hàng Nhà nước về việc thu phí, hoa hồng...trong hoạt động cho vay của TCTD đối với KH
- 2Luật các tổ chức tín dụng 2010
- 3Thông tư 18/2016/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 21/2012/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay; đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 4Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi 2017
- 5Thông tư 36/2018/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay để đầu tư ra nước ngoài của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- 6Thông tư 06/2023/TT-NHNN sửa đổi Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
Công văn 5228/NHNN-CSTT năm 2019 về hoạt động cho vay ngang hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành
- Số hiệu: 5228/NHNN-CSTT
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 08/07/2019
- Nơi ban hành: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Người ký: Nguyễn Kim Anh
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Dữ liệu đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 08/07/2019
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
