Giới thiệu về Công văn 5059/TCT-CS năm 2018
Công văn 5059/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành năm 2018 là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ quan trọng nhằm giải đáp các vướng mắc liên quan đến chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT). Nội dung trọng tâm của công văn xoay quanh việc xác định giá đất được trừ khi tính thuế GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, giúp các cơ quan thuế địa phương và doanh nghiệp thực hiện thống nhất theo đúng quy định của pháp luật.
Các nội dung chính sách cốt lõi được hướng dẫn
Văn bản làm rõ phương pháp xác định nghĩa vụ thuế GTGT đối với hoạt động kinh doanh, chuyển nhượng bất động sản thông qua các quy định cụ thể sau:
- Nguyên tắc xác định giá đất được trừ: Khi tính thuế GTGT đối với hoạt động chuyển nhượng bất động sản, giá tính thuế là giá chuyển nhượng trừ (-) giá đất được trừ theo quy định của pháp luật. Giá đất được trừ được xác định linh hoạt dựa trên nguồn gốc của quyền sử dụng đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng hoặc giao đất.
- Trường hợp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ tổ chức, cá nhân: Giá đất được trừ là giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm nhận chuyển nhượng, không bao gồm chi phí cơ sở hạ tầng. Doanh nghiệp được kê khai trừ giá đất theo hóa đơn hoặc hợp đồng chuyển nhượng hợp pháp, đi kèm chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định.
- Trường hợp được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất: Đối với đất được Nhà nước giao để đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng nhà để bán, giá đất được trừ bao gồm tiền sử dụng đất nộp ngân sách nhà nước và chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng (nếu có). Đối với đất thuê, giá đất được trừ là tiền thuê đất phải nộp ngân sách nhà nước không bao gồm các khoản được miễn, giảm.
- Khấu trừ thuế GTGT đầu vào liên quan: Hướng dẫn nguyên tắc khấu trừ thuế GTGT đối với các chi phí xây dựng, hình thành tài sản cố định trên đất. Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ hình thành nên tài sản cố định phục vụ cho hoạt động chuyển nhượng bất động sản thuộc đối tượng chịu thuế GTGT sẽ được khấu trừ toàn bộ nếu đáp ứng đủ điều kiện hóa đơn, chứng từ.
Căn cứ pháp lý áp dụng
Các hướng dẫn tại Công văn 5059/TCT-CS được đối chiếu và áp dụng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về thuế bao gồm:
- Luật Thuế giá trị gia tăng và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
- Nghị định số 209/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng (đã được sửa đổi bởi Nghị định số 12/2015/NĐ-CP).
- Thông tư số 219/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật Thuế giá trị gia tăng.
Hướng dẫn tổ chức thực hiện cho cơ quan thuế và người nộp thuế
Tổng cục Thuế đưa ra định hướng xử lý thực tế cho các bên liên quan:
- Đối với cơ quan thuế địa phương: Cần căn cứ vào hồ sơ thực tế, hợp đồng chuyển nhượng, chứng từ nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất của người nộp thuế để hướng dẫn đơn vị thực hiện việc kê khai, khấu trừ và tính thuế GTGT đúng quy định.
- Đối với doanh nghiệp (người nộp thuế): Có trách nhiệm tự xác định, kê khai trung thực các khoản chi phí đất được giảm trừ hợp pháp. Mọi hành vi kê khai sai lệch nhằm trốn thuế hoặc giảm trừ không đúng nguồn gốc đất sẽ bị xử lý theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5059/TCT-CS | Hà Nội, ngày 13 tháng 12 năm 2018 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Trà Vinh.
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 5120/CT-KKKT ngày 28/12/2017 và công văn số 3127/CT-KKKT ngày 6/11/2018 của Cục Thuế tỉnh Trà Vinh về khai bổ sung khấu trừ thuế, hoàn thuế GTGT. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22/7/2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế:
“Khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền đã ban hành kết luận, quyết định xử lý về sau kiểm tra, thanh tra; nếu người nộp thuế phát hiện hồ sơ khai thuế đã nộp và được kiểm tra, thanh tra (liên quan đến thời kỳ, phạm vi kiểm tra, thanh tra) còn sai sót thì người nộp thuế được tự khai bổ sung, điều chỉnh; việc xử lý căn cứ chế độ quy định về nguyên nhân khách quan, chủ quan của việc khai sót, chưa đúng phải điều chỉnh.”
Tại Điểm c Khoản 3 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính, quy định:
“c) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc trước ngày 31 tháng 12 hàng năm đối với trường hợp thời điểm thanh toán theo hợp đồng sớm hơn ngày 31 tháng 12, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
Đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng hoặc đến ngày 31 tháng 12 hàng năm đối với trường hợp thời điểm thanh toán theo hợp đồng sớm hơn ngày 31 tháng 12, nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ của giá trị hàng hóa không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng. Sau khi cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm số thuế GTGT đầu vào đã khấu trừ tương ứng với giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, cơ sở kinh doanh mới có được chứng từ chứng minh việc thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung.
Trường hợp đã quá hạn thanh toán chậm trả theo quy định trong hợp đồng hoặc đến ngày 31 tháng 12 hàng năm, cơ sở kinh doanh không thực hiện điều chỉnh giảm theo quy định nhưng trước khi cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền công bố quyết định kiểm tra tại trụ sở, cơ sở kinh doanh có đầy đủ chứng từ chứng minh đã thanh toán qua ngân hàng thì nếu việc không điều chỉnh giảm không dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị xử phạt vi phạm về thủ tục thuế, nếu việc không điều chỉnh giảm dẫn đến thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn thì cơ sở kinh doanh bị truy thu, truy hoàn và xử phạt theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Trường hợp cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra tại trụ sở và có quyết định xử lý không chấp nhận cho khấu trừ thuế đối với các hóa đơn GTGT không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, sau khi có quyết định xử lý của cơ quan thuế cơ sở kinh doanh mới có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì:
- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung thuế GTGT.
- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh doanh đã không điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung nếu có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong thời hạn 6 tháng kể từ tháng có Quyết định xử lý của cơ quan thuế.”
Tại Điều 10, Thông tư 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014, sửa đổi, bổ sung điểm c Khoản 3 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC; Tại điểm c khoản 10 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính quy định về việc thanh toán hàng hóa trả chậm như sau:
“c) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trường hợp khi thanh toán, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh thuế GTGT đã kê khai, khấu trừ).”
Tại điểm c khoản 10 Điều 1 Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/2/2015 của Bộ Tài chính quy định về việc thanh toán hàng hóa trả chậm như sau:
“c) Đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hóa, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hóa, dịch vụ bằng văn bản, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng thì cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.
Trường hợp khi thanh toán, cơ sở kinh doanh không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì cơ sở kinh doanh phải kê khai, điều chỉnh giảm số thuế GTGT đã được khấu trừ đối với phần giá trị hàng hóa, dịch vụ không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng vào kỳ tính thuế phát sinh việc thanh toán bằng tiền mặt (kể cả trong trường hợp cơ quan thuế và các cơ quan chức năng đã có quyết định thanh tra, kiểm tra kỳ tính thuế có phát sinh thuế GTGT đã kê khai, khấu trừ).”
Về chính sách thuế đối với mua hàng trả chậm, Tổng cục Thuế đã có công văn số 1634/TCT-CS ngày 25/4/2017 trả lời Cục Thuế tỉnh Thanh Hoá, công văn số 1637/TCT-CS ngày 25/4/2017 trả lời Cục Thuế thành phố Hà Nội (bản photocopy đính kèm).
Về chứng từ thanh toán để hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa xuất khẩu, Tổng cục Thuế đã có công văn số 28/TCT-CS ngày 3/1/2018 trả lời Cục Thuế tỉnh Long An (bản photocopy đính kèm).
Tổng cục Thuế trả lời Cục Thuế tỉnh Trà Vinh được biết và căn cứ chế độ quy định, tình hình thực tế để giải quyết theo quy định của pháp luật./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 5111/TCT-CS năm 2018 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 5128/TCT-CS năm 2018 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng thiết bị phun sương dùng trong nông nghiệp do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 5133/TCT-CS năm 2018 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cho thuê bản quyền phần mềm do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Luật quản lý thuế 2006
- 2Nghị định 83/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật quản lý thuế và Luật quản lý thuế sửa đổi
- 3Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 4Thông tư 151/2014/TT-BTC hướng dẫn thi hành Nghị định 91/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều tại Nghị định quy định về thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 5Thông tư 26/2015/TT-BTC hướng dẫn thuế giá trị gia tăng và quản lý thuế tại Nghị định 12/2015/NĐ-CP, sửa đổi Thông tư 39/2014/TT-BTC về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ do Bộ Tài chính ban hành
- 6Công văn 1637/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế đối với mua hàng trả chậm do Tổng cục Thuế ban hành
- 7Công văn 1634/TCT-CS năm 2017 về chính sách thuế liên quan đến chứng từ thanh toán đối với mua hàng trả chậm do Tổng cục Thuế ban hành
- 8Công văn 5111/TCT-CS năm 2018 về chính sách thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- 9Công văn 5128/TCT-CS năm 2018 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với mặt hàng thiết bị phun sương dùng trong nông nghiệp do Tổng cục Thuế ban hành
- 10Công văn 5133/TCT-CS năm 2018 về chính sách thuế giá trị gia tăng đối với hoạt động cho thuê bản quyền phần mềm do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 5059/TCT-CS năm 2018 về thuế giá trị gia tăng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 5059/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 13/12/2018
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Lưu Đức Huy
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 13/12/2018
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
