Tóm tắt Công văn 5058/TCT-CS năm 2015 về chính sách thuế liên quan đến chứng từ thanh toán qua ngân hàng
Công văn 5058/TCT-CS do Tổng cục Thuế ban hành ngày 25 tháng 11 năm 2015 nhằm giải đáp và hướng dẫn các vướng mắc của doanh nghiệp cũng như các Cục Thuế địa phương về điều kiện chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để xác định điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) đầu vào và tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Dưới đây là nội dung phân tích chi tiết các chính sách cốt lõi được quy định tại văn bản này:
- Nguyên tắc chung về điều kiện thanh toán không dùng tiền mặt
- Theo quy định pháp luật về thuế GTGT và thuế TNDN, các hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ từng lần có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên (đã bao gồm thuế GTGT) bắt buộc phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào và được trừ khi tính thuế TNDN.
- Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có sự chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành.
- Xử lý trường hợp thanh toán qua tài khoản ngân hàng chưa đăng ký với cơ quan thuế
- Bối cảnh quy định: Theo quy định tại Thông tư 156/2013/TT-BTC và Thông tư 219/2013/TT-BTC áp dụng tại thời điểm đó, người nộp thuế phải thực hiện thông báo thông tin các tài khoản ngân hàng dùng để giao dịch cho cơ quan thuế.
- Hướng xử lý vi phạm hành chính: Trường hợp doanh nghiệp thực hiện thanh toán qua tài khoản ngân hàng nhưng tài khoản này chưa được đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế, hành vi này được xác định là vi phạm thủ tục đăng ký thuế và sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định.
- Quyền lợi khấu trừ và tính chi phí: Sau khi doanh nghiệp đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp hồ sơ khai báo thông tin tài khoản, nếu các hóa đơn, chứng từ khác đều hợp pháp, hợp lệ và chứng minh được giao dịch mua bán là có thật, doanh nghiệp vẫn được chấp nhận khấu trừ thuế GTGT đầu vào và được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với các khoản thanh toán từ tài khoản này.
- Quy định thanh toán bằng thẻ tín dụng của cá nhân được ủy quyền
- Điều kiện áp dụng: Trường hợp doanh nghiệp ủy quyền cho cá nhân (là người lao động của doanh nghiệp) sử dụng thẻ tín dụng cá nhân để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ cho người bán, sau đó doanh nghiệp thực hiện thanh toán lại cho cá nhân bằng hình thức chuyển khoản từ tài khoản của doanh nghiệp vào tài khoản của cá nhân.
- Hồ sơ chứng minh bắt buộc để được chấp nhận: Để hình thức thanh toán này được coi là chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt hợp lệ, doanh nghiệp phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
- Có quy chế tài chính của doanh nghiệp hoặc quyết định ủy quyền bằng văn bản của doanh nghiệp cho phép cá nhân thanh toán bằng thẻ tín dụng cá nhân và được doanh nghiệp thanh toán lại.
- Hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ phải mang tên, địa chỉ và mã số thuế của doanh nghiệp.
- Có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản thẻ tín dụng của cá nhân cho người bán.
- Có chứng từ chuyển khoản từ tài khoản ngân hàng của doanh nghiệp sang tài khoản của cá nhân để hoàn trả khoản tiền đã thanh toán.
- Hướng dẫn về thanh toán bù trừ công nợ và thanh toán qua bên thứ ba
- Thanh toán bù trừ công nợ: Việc thanh toán bù trừ công nợ giữa hai bên mua và bán phải được quy định rõ ràng trong hợp đồng mua bán hoặc phụ lục hợp đồng. Doanh nghiệp phải lập biên bản đối chiếu công nợ có xác nhận của cả hai bên để làm căn cứ chứng minh cho việc thanh toán không dùng tiền mặt.
- Thanh toán qua bên thứ ba được ủy quyền: Trường hợp thanh toán qua bên thứ ba phải được quy định cụ thể trong hợp đồng hoặc văn bản thỏa thuận ba bên. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng phải thể hiện rõ dòng tiền được chuyển từ tài khoản của bên mua (hoặc bên được ủy quyền) sang tài khoản của bên bán (hoặc bên nhận ủy quyền) theo đúng thỏa thuận đã ký kết.
- Ý nghĩa thực tiễn của Công văn 5058/TCT-CS
- Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp: Văn bản đã tạo hành lang pháp lý thông thoáng, giảm bớt gánh nặng cho doanh nghiệp khi gặp phải các lỗi kỹ thuật hành chính (như chậm đăng ký tài khoản ngân hàng) nhưng giao dịch mua bán là có thật, tránh việc doanh nghiệp bị xuất toán chi phí và không được khấu trừ thuế oan uổng.
- Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt: Việc thừa nhận hình thức thanh toán qua thẻ tín dụng cá nhân được ủy quyền phù hợp với xu thế phát triển của công nghệ thanh toán hiện đại, giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 5058/TCT-CS | Hà Nội, ngày 30 tháng 11 năm 2015 |
Kính gửi: Cục Thuế tỉnh Đồng Nai.
Trả lời công văn số 5924/CT-TTr2 ngày 7/9/2015 của Cục Thuế tỉnh Đồng Nai về chính sách thuế, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Căn cứ điểm 2 Điều 15 Thông tư số 06/2012/TT-BTC ngày 11/1/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế GTGT, hướng dẫn thi hành Nghị định số 123/2008/NĐ-CP ngày 8/12/2008 và Nghị định số 121/2011/NĐ-CP ngày 22/7/2011 của Chính phủ quy định:
"2. Có chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hoá nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ trường hợp tổng giá trị hàng hoá, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT.
a) Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, thẻ ngân hàng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với
cơ quan thuế).
…
c) Đối với hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp có giá trị hàng hoá, dịch vụ mua từ hai mươi triệu đồng trở lên, cơ sở kinh doanh căn cứ vào hợp đồng mua hàng hoá, dịch vụ bằng văn bản, hoá đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán qua ngân hàng của hàng hoá, dịch vụ mua trả chậm, trả góp để kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, đồng thời ghi rõ thời hạn thanh toán vào phần ghi chú trên bảng kê hoá đơn, chứng từ hàng hoá, dịch vụ mua vào. Trường hợp chưa có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do chưa đến thời điểm thanh toán theo hợp đồng, cơ sở kinh doanh vẫn được kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào."
Căn cứ khoản 3 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật thuế GTGT quy định:
“Điều 15. Điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào
…
3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, ủy nhiệm chi hoặc lệnh chi, ủy nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế).
a) Các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán hoặc chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành không đủ điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ hai mươi triệu đồng trở lên.
b) Hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn từ hai mươi triệu đồng trở lên theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ. Đối với những hóa đơn này, cơ sở kinh doanh kê khai vào mục hàng hóa, dịch vụ không đủ điều kiện khấu trừ trong bảng kê hóa đơn, chứng từ hàng hóa, dịch vụ mua vào.
…
Trường hợp cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra tại trụ sở và có quyết định xử lý không chấp nhận cho khấu trừ thuế đối với các hóa đơn GTGT không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng, sau khi có quyết định xử lý của cơ quan thuế cơ sở kinh doanh mới có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì:
- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh doanh đã điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung thuế GTGT.
- Đối với các hóa đơn GTGT cơ sở kinh doanh đã không điều chỉnh giảm trước khi cơ quan thuế đến thanh tra, kiểm tra thì cơ sở kinh doanh được khai bổ sung nếu có chứng từ thanh toán qua ngân hàng trong thời hạn 6 tháng kể từ tháng có Quyết định xử lý của cơ quan thuế.”
Căn cứ quy định nêu trên, trường hợp DNTN Tuyết Mai làm đại lý bán hàng của Công ty CP Việt Pháp sản xuất thức ăn gia súc (PROCONO) có địa chỉ tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai. Trong năm 2012, 2013, 2014, việc thanh toán tiền hàng đối với hoá đơn trên 20 triệu đồng (đã bao gồm thuế GTGT) giữa DNTN Tuyết Mai và Công ty PROCONO được thực hiện bằng cách hàng ngày cán bộ Ngân hàng Eximbank đến tận trụ sở của DNTN Tuyết Mai thu tiền mặt, sau đó nộp tiền vào tài khoản của Công ty Proconco thì không đáp ứng điều kiện về chứng từ thanh toán để được khấu trừ thuê GTGT.
Tổng cục Thuế có ý kiến để Cục Thuế được biết và căn cứ quy định nêu trên để hướng dẫn đơn vị thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về thuế GTGT./.
|
| KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 16053/BTC-CST về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá xuất khẩu có vướng mắc về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Bộ Tài chính ban hành
- 2Công văn 2481/TCT-KK năm 2013 điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 4525/TCT-KK năm 2015 về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với hóa đơn không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 5041/TCT-KK năm 2015 về hoàn thuế giá trị gia tăng trường hợp không đảm bảo tính phù hợp giữa các chứng từ do Tổng cục Thuế ban hành
- 5Công văn 5317/TCT-KK năm 2015 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 3409/TCT-KK năm 2014 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Công văn 16053/BTC-CST về hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá xuất khẩu có vướng mắc về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Bộ Tài chính ban hành
- 2Thông tư 06/2012/TT-BTC hướng dẫn Luật Thuế giá trị gia tăng, Nghị định 123/2008/NĐ-CP và 121/2011/NĐ-CP do Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 2481/TCT-KK năm 2013 điều kiện khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Thông tư 219/2013/TT-BTC hướng dẫn Luật thuế giá trị gia tăng và Nghị định 209/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 5Công văn 4525/TCT-KK năm 2015 về khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với hóa đơn không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 6Công văn 5041/TCT-KK năm 2015 về hoàn thuế giá trị gia tăng trường hợp không đảm bảo tính phù hợp giữa các chứng từ do Tổng cục Thuế ban hành
- 7Công văn 5317/TCT-KK năm 2015 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- 8Công văn 3409/TCT-KK năm 2014 về chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 5058/TCT-CS năm 2015 về chính sách thuế liên quan tới chứng từ thanh toán qua ngân hàng do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 5058/TCT-CS
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 30/11/2015
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Cao Anh Tuấn
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 30/11/2015
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
