Công văn 4936/TCT-TNCN năm 2017 do Tổng cục Thuế ban hành là văn bản hướng dẫn quan trọng về việc xác định tình trạng cư trú của cá nhân phục vụ cho công tác quản lý và tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN). Việc xác định đúng tình trạng cư trú (cá nhân cư trú hoặc cá nhân không cư trú) quyết định trực tiếp đến nghĩa vụ thuế, thuế suất áp dụng và phương pháp tính thuế đối với thu nhập phát sinh của cá nhân tại Việt Nam cũng như trên toàn cầu.
- Tiêu chí xác định cá nhân cư trú theo pháp luật Việt Nam
Theo quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân và các văn bản hướng dẫn thi hành, cá nhân được coi là cá nhân cư trú tại Việt Nam nếu đáp ứng một trong các điều kiện sau:
- Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam. Ngày đến và ngày đi được tính là 01 ngày.
- Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo một trong hai trường hợp: Có nơi ở đăng ký thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú; hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của các hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong năm tính thuế.
- Hướng dẫn xử lý trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên ở cả hai nước
Công văn 4936/TCT-TNCN làm rõ nguyên tắc xác định tình trạng cư trú trong trường hợp cá nhân vừa được coi là cá nhân cư trú của Việt Nam (theo tiêu chí nơi ở thường xuyên từ 90 ngày trở lên), vừa là đối tượng cư trú của quốc gia hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với Việt Nam:
- Nếu cá nhân được xác định là đối tượng cư trú của cả hai bên ký kết Hiệp định, tình trạng cư trú của cá nhân đó sẽ được giải quyết theo các quy tắc phân xử (tie-breaker rules) quy định tại Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và nước đó.
- Cá nhân phải cung cấp Giấy chứng nhận cư trú do cơ quan thuế của nước kia cấp để làm căn cứ áp dụng Hiệp định. Giấy chứng nhận cư trú này phải được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định để có giá trị pháp lý tại Việt Nam.
- Các quy tắc phân xử tình trạng cư trú theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Khi áp dụng Hiệp định để xác định tình trạng cư trú của cá nhân là đối tượng cư trú của cả hai nước, các tiêu chí sau sẽ được xem xét theo thứ tự ưu tiên:
- Cá nhân sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước nơi họ có nhà ở thường trực. Nếu họ có nhà ở thường trực ở cả hai nước, họ sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước mà họ có các quan hệ cá nhân và kinh tế chặt chẽ hơn (trung tâm của các quyền lợi sống).
- Nếu không thể xác định được nước nơi cá nhân đó có trung tâm các quyền lợi sống, hoặc nếu cá nhân đó không có nhà ở thường trực ở bất kỳ nước nào, họ sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước nơi họ thường xuyên sống.
- Nếu cá nhân đó thường xuyên sống ở cả hai nước hoặc không sống thường xuyên ở nước nào, họ sẽ được coi là đối tượng cư trú của nước mà họ mang quốc tịch.
- Nếu cá nhân đó là công dân của cả hai nước hoặc không là công dân của nước nào, cơ quan thẩm quyền của hai nước ký kết Hiệp định sẽ giải quyết vấn đề bằng thỏa thuận chung.
- Nghĩa vụ kê khai và nộp hồ sơ chứng minh của người nộp thuế
Để được áp dụng các quy định ưu đãi theo Hiệp định tránh đánh thuế hai lần về tình trạng cư trú, cá nhân và tổ chức chi trả thu nhập cần lưu ý:
- Cá nhân có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ chứng minh tình trạng cư trú của mình, bao gồm hộ chiếu (để xác định số ngày có mặt tại Việt Nam), hợp đồng thuê nhà, và đặc biệt là Giấy chứng nhận cư trú của nước ngoài.
- Trường hợp cá nhân không cung cấp được Giấy chứng nhận cư trú đã được hợp pháp hóa lãnh sự, cơ quan thuế Việt Nam sẽ xác định tình trạng cư trú theo pháp luật nội địa của Việt Nam. Khi đó, cá nhân có thể bị áp dụng nghĩa vụ thuế đối với toàn bộ thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam nếu được xác định là cá nhân cư trú.
- Tổ chức chi trả thu nhập tại Việt Nam có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế TNCN thay cho cá nhân nước ngoài dựa trên tình trạng cư trú đã được xác định một cách chính xác.
Để sử dụng toàn bộ tiện ích nâng cao của Hệ Thống Pháp Luật vui lòng lựa chọn và đăng ký gói cước.
| BỘ TÀI CHÍNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Số: 4936/TCT-TNCN | Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2017 |
Kính gửi: Cục Thuế thành phố Hà Nội
Tổng cục Thuế nhận được công văn số 60465/CT-TTHT ngày 06/9/2017 của Cục Thuế thành phố Hà Nội đề nghị hướng dẫn xác định tình trạng cư trú của người Việt Nam được cử đi thực tập, đào tạo tay nghề tại Nhật Bản có mặt ở Việt Nam dưới 183 ngày. Về vấn đề này, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:
Tại Điều 1 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân hướng dẫn:
“Điều 1. Người nộp thuế
…
Trường hợp cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam theo quy định tại khoản này nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế mà cá nhân không chứng minh được là cá nhân cư trú của nước nào thì cá nhân đó là cá nhân cư trú tại Việt Nam.
Việc chứng minh là đối tượng cư trú của nước khác được căn cứ vào Giấy chứng nhận cư trú. Trường hợp cá nhân thuộc nước hoặc vùng lãnh thổ đã ký kết Hiệp định thuế với Việt Nam không có quy định cấp Giấy chứng nhận cư trú thì cá nhân cung cấp bản chụp Hộ chiếu để chứng minh thời gian cư trú.”
Căn cứ hướng dẫn nêu trên, trường hợp cá nhân là người Việt Nam được Công ty cử đi thực tập, đào tạo tay nghề tại Nhật Bản, cá nhân đó có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam nhưng thực tế có mặt tại Việt Nam dưới 183 ngày trong năm tính thuế thì cá nhân được lựa chọn việc xác định tình trạng cư trú của cá nhân tại Việt Nam như sau:
- Nếu cá nhân chứng minh là đối tượng cư trú tại Nhật Bản theo quy định của Nhật Bản thì cá nhân được xác định là không cư trú tại Việt Nam và kê khai thu nhập chịu thuế TNCN phát sinh tại Việt Nam theo thuế suất toàn phần. Các khoản thu nhập phát sinh tại Việt Nam nếu Công ty đã khấu trừ và khai thuế TNCN theo Biểu thuế lũy tiến từng phần thì điều chỉnh lại theo thuế suất áp dụng đối với cá nhân không cư trú.
- Nếu cá nhân không chứng minh là đối tượng cư trú tại Nhật Bản theo quy định của Nhật Bản thì cá nhân được xác định là cư trú tại Việt Nam. Cá nhân có trách nhiệm kê khai thu nhập phát sinh tại Việt Nam và thu nhập phát sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam (nếu có) theo Biểu thuế lũy tiến từng phần.
Tổng cục Thuế trả lời để Cục Thuế thành phố Hà Nội được biết./.
|
| TL. TỔNG CỤC TRƯỞNG |
- 1Công văn 4229/TCT-TNCN xác định tình trạng cư trú của người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Công văn 4038/TCT-TNCN năm 2013 thuế thu nhập cá nhân đối với xác định tình trạng cư trú của người nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành
- 3Công văn 3693/TCT-TNCN năm 2017 về thuế thu nhập cá nhân đối với xác định tình trạng cư trú của người nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành
- 1Công văn 4229/TCT-TNCN xác định tình trạng cư trú của người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành
- 2Thông tư 111/2013/TT-BTC Hướng dẫn Luật thuế thu nhập cá nhân và Nghị định 65/2013/NĐ-CP do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành
- 3Công văn 4038/TCT-TNCN năm 2013 thuế thu nhập cá nhân đối với xác định tình trạng cư trú của người nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành
- 4Công văn 3693/TCT-TNCN năm 2017 về thuế thu nhập cá nhân đối với xác định tình trạng cư trú của người nước ngoài do Tổng cục Thuế ban hành
Công văn 4936/TCT-TNCN năm 2017 về xác định tình trạng cư trú của cá nhân do Tổng cục Thuế ban hành
- Số hiệu: 4936/TCT-TNCN
- Loại văn bản: Công văn
- Ngày ban hành: 25/10/2017
- Nơi ban hành: Tổng cục Thuế
- Người ký: Tạ Thị Phương Lan
- Ngày công báo: Đang cập nhật
- Số công báo: Đang cập nhật
- Ngày hiệu lực: 25/10/2017
- Tình trạng hiệu lực: Kiểm tra
